Khánh Duy,
Nguồn: Vietnamnet,đăng ngày 27/2/2013,truy cập đường link gốc tại đâyHiến pháp không chỉ là câu chuyện xa vời của các chính khách nhằm thiếp lập thể chế quyền lực cho thượng tầng chính trị, ngược lại, nếu được vận dụng nghiêm cẩn, sẽ gắn sát sườn và bảo vệ trực tiếp quyền lợi của tất cả công dân.
Một câu chuyện nhỏ về Hiến pháp Mỹ nhưng liên quan tới Việt Nam để minh họa, vụ kiên Tinker v. Des Moines được phán quyết bởi Tòa tối cao Mỹ năm 1969.Chuyện nhỏ mà không nhỏ, bởi đây là một trong những vụ kiện tiêu biểu và nổi tiếng nhất trong lịch sử vận dụng Tu chính án số một của Hiến pháp Mỹ̀.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ tư, ngày 27 tháng hai năm 2013
HIẾN PHÁP LÀ MÁI NHÀ BẢO VỆ NHÂN DÂN
Thứ hai, ngày 31 tháng mười hai năm 2012
PHÂN ĐỊNH RANH GIỚI GIỮA LUẬT CÔNG VÀ LUẬT TƯ Ở ĐỨC: LỊCH SỬ, TRANH LUẬN VÀ GỢI MỞ
TS. Nguyễn Minh TuấnNguồn: Tạp chí Tia sáng,đăng ngày 31/12/2012, truy cập đường link gốc tại đây
Việc phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư đã trở thành một truyền thống pháp luật ở Đức cũng như những nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa. Vấn đề tưởng như đã rõ ràng, đã trở thành kinh điển, nhưng hóa ra vẫn còn đó nhiều vấn đề bỏ ngỏ cần lời giải đáp như: Tư tưởng, học thuyết về phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư có từ bao giờ, được kế thừa, phát triển ra sao ở Đức? Những lĩnh vực pháp luật cụ thể nào thuộc luật công, luật tư? và quan niệm của các nhà luật học Đức hiện nay về vấn đề này như thế nào, những vấn đề lý luận nào cần tiếp tục được giải đáp? Bài viết dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ những câu hỏi trên từ góc nhìn lịch sử pháp luật và thực tiễn lý luận ở CHLB Đức.
Chủ nhật, ngày 09 tháng mười hai năm 2012
SO SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguồn: Tham luận tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ IV, chủ đề: "Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền vững", do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Đại học Quốc gia Hà nội tổ chức ngày 26-28/11/2012 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, Hà nội.
I. Đặt vấn đềPháp luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước (dưới đây viết tắt là TNBTCNN) là một phần của trật tự pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức nhà nước hiện đại, có mục đích là kiểm soát quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật và sự công bằng, nhằm bảo vệ quyền con người và quyền công dân.[1] Hay nói cách khác, trong nhà nước pháp quyền, nhà nước không phải là vị vua đứng trên hay đứng ngoài pháp luật mà là trong luật (im Recht) và phải hành động đồng thời chịu trách nhiệm giống như mọi công dân.[2] Nhà nước pháp quyền ngày nay là một trong những điều kiện thiết yếu để phát huy dân chủ, tự do và đảm bảo cho sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững.[3]
Thứ năm, ngày 29 tháng mười một năm 2012
PHƯƠNG PHÁP SOKRATES VÀ TRANH LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
Nguyễn Minh Tuấn
Ảnh: Carsten Sann
Sokrates là nhà triết học nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại, đồng thời là cha đẻ của thuật hùng biện.Sokrates tin rằng nếu được thức tỉnh, mọi người ai ai cũng biết lẽ phải, sẵn sàng làm theo lẽ phải.Ông cho rằng đối thoại phải dựa trên cơ sở trung thực, minh bạch và tin cậy. Muốn giải quyết vấn đề, theo Sokrates người ta cần chia nhỏ vấn đề đó thành một hệ thống các câu hỏi, các câu trả lời có tư duy sẽ tự kết nối thành lời giải. Hay nói cách khác, căn cốt của phương pháp Sokrates là đi từ việc đặt ra giả thuyết đến loại bỏ các giả thuyết và tìm lời giải. Hỏi là cách giúp người được hỏi có dịp suy nghĩ và tự trả lời. Thực ra câu trả lời và giải pháp do chính người được hỏi tìm thấy hoặc rút ra đó mới chính là mục đích của phương pháp Socrates.
Thứ tư, ngày 28 tháng mười một năm 2012
BỘ LUẬT URNAMMU - NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ
Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn ảnh: tại đây Lâu nay trong hệ thống giáo trình, sách báo khoa học pháp lý về lịch sử pháp luật vẫn thừa nhận Bộ luật Hammurabi ra đời dưới triều đại vua Hammurabi (1728–1686 TCN), ở Lưỡng Hà cổ đại là Bộ luật thành văn đầu tiên cổ xưa nhất của nhân loại. Vấn đề này ít được lật ngược lại bàn thảo và mặc nhiên được thừa nhận chung trong khoa học pháp lý Việt Nam đến nay. Tuy nhiên có một thực tế là khoa học không bao giờ dừng lại, mà luôn phát triển theo thời gian. Vấn đề lịch sử pháp luật cũng không phải là ngoại lệ vì nhiều kết quả nghiên cứu khoa học mới có thể làm thay đổi hoàn toàn một cách nhìn cũ, thậm chí cách nhìn ấy có lúc đã trở thành kinh điển. Vấn đề về Bộ luật cổ xưa nhất của nhân loại có lẽ cũng là một vấn đề như vậy.
Thứ ba, ngày 29 tháng năm năm 2012
LỊCH SỬ LẬP HIẾN Ở ĐỨC
Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 1/2012, tr. 60 - 63Hiến pháp của CHLB Đức hiện nay là một trong những bản Hiến pháp nổi tiếng thế giới về tính chặt chẽ, khoa học và những đặc trưng nổi bật của nhà nước pháp quyền hiện đại. Không thể từ hư vô hay nhờ sao chép từ một bản Hiến pháp của nước khác mà có được những thành tựu ấy. Sản phẩm lập hiến hiện hành thực sự là sự kết tinh của cả một quá trình dài, thậm chí rất dài, sàng lọc, gắn kết những giá trị lập hiến của nhân loại với những đặc trưng riêng độc đáo của Hiến pháp Đức. Bài viết dưới đây sẽ tiếp cận Hiến pháp Đức từ góc nhìn lịch sử, nhằm chỉ ra những giá trị cốt lõi của bản Hiến pháp này.
Thứ ba, ngày 15 tháng năm năm 2012
TRƯỜNG PHÁI PHÁP LUẬT LỊCH SỬ Ở ĐỨC
Nguồn: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,Số 5 (289) 2012, đăng ngày 14/5/2012, tr. 39–47, đường link mục lục tạp chí tại đây.Trường phái pháp luật lịch sử (die historische Rechtsschule) là trường phái pháp luật lớn, phát triển mạnh nhất ở Đức trong suốt thế kỷ XIX. Mở đầu cho sự ra đời của trường phái pháp luật lịch sử này là cuộc tranh luận khoa học giữa hai nhà luật học Thibaut (1772–1840) và Savigny (1779–1861) về vấn đề pháp điển hóa Bộ luật dân sự thống nhất của nước Đức. Những học giả của trường phái pháp luật lịch sử, mà người sáng lập là Savigny đã có nhiều đóng góp quan trọng trong sự phát triển khoa học pháp lý ở Đức, trong đó quan trọng nhất là việc xây dựng một phương pháp tiếp cận pháp luật mới, khảo cứu một cách toàn diện, có hệ thống Luật La Mã và thực tiễn áp dụng ở thời trung cổ để đưa ra những đóng góp tích cực vào quá trình pháp điển hóa Bộ luật dân sự của Đức năm 1900.
VĂN HÓA PHÁP LUẬT PHÁP VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp,truy cập đường link gốc tại đây1. Các đặc điểm cơ bản của văn hoá pháp luật Pháp1.1. Ảnh hưởng từ văn hoá pháp luật La MãCác bộ luật lớn của Pháp như Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật Thương mại năm 1807 đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và luật La Mã. Luật La Mã được nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp và được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật. “Corpus juris civilis” được tiếp nhận rộng rãi ở Pháp cũng như ở các nước lục địa châu Âu.
Thứ ba, ngày 10 tháng tư năm 2012
CƠ CHẾ BẢO HIẾN Ở ĐỨC
Nguyễn Minh TuấnNguồn: Tạp chí Tia sáng,đăng ngày 9/4/2012,
Bảo hiến ngày nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có tác động trực tiếp đến cả hệ thống pháp luật. Mô hình bảo hiến ở Cộng hòa Liên bang Đức là một trong những mô hình bảo hiến tân tiến rất đáng tham khảo đối với nhiều quốc gia trên thế giới đang muốn xây dựng một cơ chế bảo hiến thành công, triệt để theo nghĩa hiện đại.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả cho rằng có ba nguyên nhân cơ bản đảm bảo cho thể chế bảo hiến ở Đức thành công:
Thứ sáu, ngày 06 tháng tư năm 2012
VÌ SAO CƠ CHẾ BẢO HIẾN THÀNH CÔNG Ở ĐỨC?
Nguyễn Minh TuấnTrong bài viết "Thêm một lời bàn về thể chế bảo hiến" đăng trên Tạp chí Tia sáng ngày 29/3/2012, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đã chỉ ra rằng chúng ta có thể dễ dàng vay mượn một mô hình nào đó giống như một chiếc vương miện vào xứ mình, nhưng vấn đề đặt ra là liệu vương miện ấy có tỏa sáng quyền uy, có bảo vệ được dân quyền thực sự được hay không mới là điều thực sự cần bàn. Tôi hoàn toàn đồng tình và chia sẻ với những trăn trở này. Cơ chế bảo hiến thực tế chỉ có thể ra đời và phát huy tác dụng tích cực khi nó được đặt trong những điều kiện của một bản Hiến pháp thực sự dân chủ, cùng với những đảm bảo cụ thể về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội.
Nhiều học giả hiện nay đánh giá cao cơ chế bảo hiến ở Đức, coi đây là một trong những mô hình thành công trên thế giới và rất đáng tham khảo đối với Việt Nam. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là vì sao cơ chế bảo hiến lại có thể thành công ở Đức, ẩn sau thành công ấy là những điều kiện, tiền đề nào? Bài viết dưới đây tôi xin chia sẻ quan điểm cá nhân cùng góp bàn, lý giải về vấn đề này.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tôi cho rằng sở dĩ cơ chế bảo hiến ở Đức có thể thành công là do cơ chế này đã hội tụ được đầy đủ cả ba điều kiện cơ bản sau đây:
Thứ sáu, ngày 16 tháng ba năm 2012
BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP
GS.TS. Nguyễn Đăng Dung,ThS. Nguyễn Thị Thủy,Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 6/2011, tr.3–8, truy cập đường link gốc tại đây
1. Sự cần thiết phải xác định rõ chức năng căn bản của Hiến pháp trong xã hộiTheo Dele Olowu, tác giả cuốn sách về công cuộc chống tệ nạn tham nhũng của Châu Phi thì “Một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao ngày nay tình trạng tham nhũng trong chính phủ lại lan tràn ở châu Phi là: người ta đã dành quá nhiều nỗ lực để tìm cách cứu chữa vấn đề đó hơn là để hiểu được nó”.[1]
Chúng tôi cho rằng, nhận định trên không chỉ đúng cho trường hợp tham nhũng ở châu Phi, mà còn có thể đúng cho mọi trường hợp, trong đó cả công cuộc đang tiến hành sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam hiện nay. Muốn cho việc sửa đổi Hiến pháp của chúng ta thắng lợi thì trước hết chúng ta phải hiểu được những vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Một trong những vấn đề cơ bản đó là chức năng của Hiến pháp.
Thứ tư, ngày 14 tháng ba năm 2012
BA GIÁ TRỊ CỐT LÕI CỦA LUẬT CƠ BẢN ĐỨC
Luật cơ bản (Grundgesetz) là văn bản pháp lý có giá trị và hiệu lực cao nhất trong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật ở Đức hiện nay. Hơn 60 năm, trải qua bao biến cố lịch sử, văn bản pháp lý này vẫn chứng tỏ sức sống kì diệu của nó và vẫn tiếp tục có đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung trên nhiều phương diện ở nước Đức. Câu hỏi đặt ra vậy đâu là những giá trị căn bản nhất, những giá trị có tính chất nền tảng, quyết định nhất khiến cho văn bản pháp lý này có sức sống lâu dài như vậy? Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tôi cho rằng Luật cơ bản Đức có ba giá trị cốt lõi nhất và có ý nghĩa nhất sau đây:
Thứ hai, ngày 13 tháng hai năm 2012
VAI TRÒ CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ NÓI CHUNG, ĐẢNG CẦM QUYỀN NÓI RIÊNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI (QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ MÔ HÌNH TIÊU BIỂU)
PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế, ThS. Đặng Đình ThànhNguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2003,truy cập đường link gốc tại đâyI. VỊ TRÍ CỦA CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ NÓI CHUNG, ĐẢNG CẦM QUYỀN NÓI RIÊNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI.Đảng chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị của các nước tư bản. Nó có vai trò là một trong những thành phần cơ bản của chế độ chính trị, của xã hội công dân hiện đại, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, từ cơ cấu tổ chức đến sự vận hành của hệ thống chính trị. Đây là một tổ chức chính trị phản ánh lợi ích của giai cấp, của tầng lớp xã hội, nó liên kết, lãnh đạo những người đại diện tích cực nhất của tầng lớp hay xã hội đó để cùng thực hiện đạt những mục tiêu và lý tưởng nhất định.
Thứ tư, ngày 14 tháng mười hai năm 2011
BÀN THÊM VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC LÀ THỐNG NHẤT, NHƯNG CÓ SỰ PHÂN CÔNG PHÂN QUYỀN VÀ PHỐI KẾT HỢP GIỮA BA QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP
Montesquieu (1689-1755) GS.TS. Nguyễn Đăng Dung,
Học thuyết phân quyền kể từ khi ra đời cho đến khi được Montesquieu nâng lên thành học thuyết phân quyền trong thời kỳ Khai sáng những năm đầu tiên của Cách mạng tư sản Pháp đã trở thành xương sống của việc tổ chức quyền lực nhà nước khắp nơi trên thế giới. Phân quyền như là một đòi hỏi của dân chủ. Phân quyền như là một nội dung chính của Hiến pháp. Ở đâu không phân quyền thì ở đó không có Hiến pháp. Ở Việt Nam, trong những năm dài của cơ chế tập trung, chúng ta không thừa nhận sự áp dụng học thuyết phân quyền cho nên học thuyết phân quyền đối với chúng ta là rất xa lạ, hầu như không biết hoặc biết rất ít về học thuyết này cũng như áp dụng nó trong tổ chức cơ cấu của nhà nước tư sản.
Cho đến nay, với công cuộc đổi mới, mở cửa, và nhất là với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, những hạt nhân hợp lý trong học thuyết phân quyền đã được chúng ta ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Điều 2 của Hiến pháp quy định rõ:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thứ ba, ngày 18 tháng mười năm 2011
19 QUYỀN CƠ BẢN - 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC
Tác giả bản dịch: Nguyễn Minh TuấnNguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức củaBundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây
Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào.
19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức.Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)
ĐỔI MỚI HIẾN PHÁP, NGHĨ VỀ MỘT THIÊN CỔ HÙNG VĂN CHO ĐỜI SAU
Tổng thống Obama kể rằng mẹ ông là người
đã rèn cho ông niềm tin là mọi người Mỹ,
với các màu da khác nhau đều bình đẳng
theo Hiến pháp.TS. Lê Vinh TriểnCó thể chúng ta chưa có những công trình vật chất để lại ngàn năm, tuy nhiên, với năng lực tinh thần, chúng ta có thể nghĩ đến việc tạo lập ra những giá trị để lưu dấu lâu dài, mà một ví dụ cụ thể là đổi mới Hiến pháp nhằm thể hiện tầm nhìn mới, tầm nhìn lâu dài của lãnh đạo, làm cho Hiến pháp trở thành tài sản của mọi người dân Việt Nam – hôm nay và cả mai sau.
Thứ hai, ngày 26 tháng chín năm 2011
TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ CÓ LỊCH SỬ HƠN MỘT THẾ KỶ Ở ĐỨC
Nguyễn Minh Tuấn
Tình huống pháp luật dưới đây đã có lịch sử hơn một thế kỷ ở Đức. Vào khoảng năm 1905, tức là 5 năm sau khi Bộ dân luật của Đức (1900) có hiệu lực, người ta bắt đầu tranh luận tình huống này. Trong lịch sử pháp luật ở Đức, đây được coi là một trong những tình huống pháp lý gây tranh luận nhiều nhất.Tình huống đó như sau:
Trong môt nhà hàng ở Hamburg của người chủ R, một người đàn ông tên là H đã mời người đồng nghiệp tên là B một món trai luộc (Austern). Trong khi thưởng thức món ăn, B phát hiện ra trong một con trai có viên ngọc trai (Perle) mà giá trị của viên ngọc trai này là một số tiền rất lớn thời điểm đó. Câu hỏi đặt ra: Ai là người sở hữu viên ngọc trai này? (Nguồn: Ch. Fahl, Sieben unterhaltsame Lektionen, 1. Aufl., 2010, S. 43f.)
Thứ sáu, ngày 23 tháng chín năm 2011
TINH THẦN HIẾN PHÁP Ở ĐỨC
Nguyễn Minh Tuấn
Bức ảnh mà quí vị xem ở trên là bức ảnh miêu tả quang cảnh những buổi trao đổi, thảo luận về Hiến pháp tại "nhà thờ thánh Paul" (Paulskirche/ St. Paul's Church) ở Frankfurt. Nhà thờ này được xem như là nơi khởi nguồn, là biểu tượng cho Tinh thần Hiến pháp ở Đức.Tại đây, ngày 28 tháng 3 năm 1849, bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Đức đã được thông qua bởi một Quốc hội lập hiến mà thành viên là những nhà trí thức hàng đầu thời đó. Họ đã trao đổi rất kĩ lưỡng và kiến thiết ra một bản Hiến pháp dân chủ không thua kém bất cứ một bản Hiến pháp thành văn nào trên thế giới thời điểm đó. Có được thành quả ấy cũng bởi khi xây dựng Hiến pháp này, các nhà lập hiến đã ý thức được rằng Hiến pháp trước hết phải chứa đựng những giá trị pháp quyền, Hiến pháp sinh ra là để ghi nhận, bảo vệ quyền con người và chống lại sự lạm quyền của nhà nước. (Xem: Edel/Thielmann, Rechtsgeschichte, 3. Aufl., 2003, Rn.526f.)Đọc Hiến pháp này, người ta không khỏi ngạc nhiên và trân trọng những giá trị của nó, vì gần như tất cả các quyền tự do dân chủ mà hiện nay người Đức đang được hưởng đều đã được qui định một cách đầy đủ, chi tiết ở Chương VI của Hiến pháp như: quyền tự do ngôn luận (Điều 143), quyền tự do biểu tình (Điều 161), quyền tự do lập hội (Điều 162), quyền tự do tôn giáo (Điều 147), quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp (Điều 158), quyền tự do khoa học (Điều 152), quyền sở hữu tài sản, quyền tự do cư trú, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 133), quyền bất khả xâm phạm về thư tín, quyền bình đẳng (Điều 137), các quyền tố tụng, liên quan đến việc bắt giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (Điều 175), bãi bỏ hình phạt tử hình (Điều 139)...
Thứ ba, ngày 13 tháng chín năm 2011
BẢN DỊCH TUYÊN NGÔN VỀ QUYỀN CỦA BANG VIRGINIA NĂM 1776
(George Mason [1725 - 1792] - đồng tác giả
Tuyên ngôn về quyền của bang Virginia 1776)Giới thiệu và dịch sang Tiếng Việt: Nguyễn Minh Tuấn
Virginia Declaration of Rights - Tuyên ngôn về quyền của bang Virginia năm 1776 là văn bản pháp lý quan trọng trong lịch sử pháp luật thế giới. Đây là văn bản pháp lý có tính khởi nguồn về quyền con người, khởi nguồn về phân quyền và là văn bản pháp lý có ảnh hưởng sâu sắc đến các văn bản pháp lý khác sau này như: Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn về quyền của Mỹ và Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp cũng như nhiều văn bản pháp lý khác.
Quá trình chuẩn bị cho bản Tuyên ngôn này bắt đầu từ đầu năm 1776, tại thời điểm mà cuộc cách mạng tư sản Mỹ chống thực dân Anh vẫn đang diễn ra và được thông qua vào ngày 12/06/1776. Những người có công lao lớn tham gia soạn thảo bản Tuyên ngôn này là George Mason, Thomas Jefferson and James Madison. Trong đó, người có công đặc biệt là George Mason - người đã soạn thảo các qui định bảo vệ các quyền tự do của con người và xác định rõ mục đích cơ bản của chính quyền.
Thứ hai, ngày 01 tháng tám năm 2011
HÀNG NGÀN ĐIỂM KHÔNG THI ĐẠI HỌC MÔN SỬ: CHUYỆN BÌNH THƯỜNG?
Nguyễn Minh Tuấn
Trước kết quả thê thảm của môn lịch sử trong kì thi đại học vừa qua, trả lời báo Tuổi trẻ ngày 30/7, người đứng đầu Bộ giáo dục đã cho rằng: "Theo tôi, trong một kỳ thi như kỳ thi đại học vừa qua, có hàng ngàn điểm 0 là bình thường. Đây là kỳ thi cấp quốc gia, là thi tuyển, với mục đích phân loại để làm rõ đâu là người giỏi, người khá, đâu là người yếu kém. Vì vậy, qua quá trình thi lộ ra những học sinh kém là bình thường."
Tôi thực sự không hiểu ngài Bộ trưởng nói "bình thường" là theo nghĩa nào. Đúng là kì thi nào cũng cần phải mang tính phân loại, tìm ra người giỏi, người khá, người yếu kém. Nhưng vấn đề là số lượng, là tỉ lệ bài thi yếu kém đó là bao nhiêu trong tổng thể những người dự thi? Nếu tỉ lệ bài thi yếu kém quá nhiều, hàng nghìn thí sinh không làm được một chút nào, sau khi đã có một thời gian dài ôn luyện, đó chắc chắn phải được xem là việc rất bất bình thường và phải nghiêm túc xem xét lại từ cách dạy, cách học và cách đánh giá. Đơn giản hơn là giáo viên, nếu môn học giáo viên đó dạy mà có quá nhiều điểm 0, điểm yếu kém, thì việc đầu tiên người giáo viên cần làm là phải tự xem lại mình, mà có biện pháp khắc phục, sửa chữa. Huống chi đây lại là người đứng đầu ngành giáo dục của cả một nước, kết quả thi thấp như thế, một thực trạng đáng báo động như thế, vậy mà ngài Bộ trưởng lại thản nhiên cho rằng đó là việc BÌNH THƯỜNG.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
















