TS. Võ Trí Hảo
Nguồn: Tia sáng,
đăng ngày 29/3/2013,
truy cập đường link gốc tại đây
Làng là một thành tố quan trọng của dân chủ, vì không có dân chủ ở cơ sở thì sẽ không có dân chủ ở vĩ mô. Bởi vậy, hiến pháp các nước văn minh đều trực tiếp hay gián tiếp, minh thị hay mặc thị bảo đảm sự tồn tại của làng. Thế nhưng tìm kiếm những điều tương tự trong hiến pháp hiện hành của Việt Nam cũng như trong Dự thảo sửa Hiến pháp 1992, chúng ta không thấy bóng dáng làng, dù là một gợi ý nhỏ.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ nhật, ngày 31 tháng ba năm 2013
LÀNG KHÔNG CÓ CHỖ TRONG HIẾN PHÁP?
Chủ nhật, ngày 17 tháng hai năm 2013
NHÌN LẠI CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI 1979
Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề. Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược - Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.
Thứ ba, ngày 12 tháng sáu năm 2012
TƯ TƯỞNG LẬP HIẾN Ở VIỆT NAM TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
PGS.TS. Thái Vĩnh ThắngNguồn: Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2011,đăng lại trên trang web của Viện nhà nước và pháp luật,ngày 12/6/2012, truy cập đường link gốc tại đâyLịch sử lập hiến Việt Nam bắt đầu từ năm 1946 khi bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua. Tuy nhiên, tư tưởng lập hiến đã xuất hiện ở Việt Nam trước đó khoảng gần một thế kỷ, sau khi bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, Hiến pháp nước Mỹ năm 1787 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nước Pháp năm 1789 ra đời, đặc biệt vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi những luồng gió mới của chính sách Duy tân của Minh Trị Thiên hoàng ở Nhật Bản và Cách mạng Trung Hoa năm 1911 thổi vào Việt Nam. Tư tưởng lập hiến Việt Nam đã xuất hiện trong giới trí thức Việt Nam mà tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, đặc biệt là tư tưởng lập hiến của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.
Thứ năm, ngày 17 tháng năm năm 2012
CƠ SỞ CHO NIỀM TIN
Thời điểm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thời khắc đặc biệt đáng nhớ trong lịch sử Việt nam.
Thời khắc này đáng nhớ ít nhất bởi hai lẽ: chưa lúc nào trong lịch sử, chúng ta lại nghèo khó đến như thế nhưng cũng chưa có lúc nào trong lịch sử, chúng ta lại có NIỀM TIN đối với chính quyền, với tương lai của đất nước lớn lao đến như thế.Hãy cùng nhớ lại, sau Cách mạng, quốc khố lúc đó gần như trống rỗng, cả kho bạc chỉ còn 1,2 triệu đồng, quá nửa trong số đó là tiền rách, nát, không tiêu được. Vậy mà chỉ trong Tuần lễ Vàng, trong một thời gian rất ngắn, nhân dân đã quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kilôgam vàng. Đáng lưu ý là riêng gia đình doanh nhân Trịnh Văn Bô (1914 - 1988) đã ủng hộ cho Chính phủ Cách mạng lâm thời lúc đó là 5.147 lượng vàng, một số tiền gấp đôi ngân khố của cả nước bấy giờ.
Thứ ba, ngày 15 tháng năm năm 2012
VĂN HÓA PHÁP LUẬT PHÁP VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp,truy cập đường link gốc tại đây1. Các đặc điểm cơ bản của văn hoá pháp luật Pháp1.1. Ảnh hưởng từ văn hoá pháp luật La MãCác bộ luật lớn của Pháp như Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật Thương mại năm 1807 đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và luật La Mã. Luật La Mã được nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp và được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật. “Corpus juris civilis” được tiếp nhận rộng rãi ở Pháp cũng như ở các nước lục địa châu Âu.
Thứ sáu, ngày 06 tháng tư năm 2012
YÊU SÁCH "ĐƯỜNG LƯỠI BÒ" CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC LUẬN ĐIỂM PHÁP LÝ
Tác giả: Hoàng ViệtNguồn: Tạp chí Tia sáng, đăng ngày 5/4/2012,truy cập đường link gốc tại đây
Sơ đồ đường yêu sách 9 đoạn
- đường lưỡi bò - của Trung Quốc
trên Biển Đông. Nguồn: VnExpress.
Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của chính quyền Trung Quốc về tính chất pháp lý của “đường lưỡi bò”. Trong khi đó, nhiều lập luận của các học giả cũng như của chính quyền Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế.Lịch sử xuất hiện “đường lưỡi bò”
Năm 1933, Pháp thực hiện việc đưa quân ra đồn trú tại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Để đối phó với các hành động này của chính quyền Pháp tại Đông Dương, chính quyền Cộng hòa Trung Hoa (chính quyền Tưởng Giới Thạch) đã cho thành lập Ủy ban Điều tra Bản đồ Đất và Biển. Nhiệm vụ của Ủy ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên cho các đảo ở Biển Đông và xuất bản các bản đồ để thể hiện các đảo này thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.
Thứ sáu, ngày 30 tháng ba năm 2012
THIÊN ĐÔ CHIẾU CỦA VUA LÝ CÔNG UẨN - NHỮNG GIÁ TRỊ CHƯA BAO GIỜ CŨ
PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế,
Nguồn: Bài in trong Kỷ yếu Hội thảo 1000 năm Vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội, 2009, đăng lại trên website của Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, ngày 20/5/2010,
truy cập đường link gốc tại đây
1. Mùa xuân năm 1010, vài tháng sau khi Triều Lý được thành lập, và sau tết đầu tiên trên cương - vị - vua ở kinh thành Hoa Lư (Hoa Lau), Lý Công Uẩn về thăm hương Cổ Pháp, cho các bô lão trong hương tiền, lụa; viếng đền vị anh hùng làng Dóng và tặng thần danh hiệu Xung thiên thần vương (Thần vương xông lên trời)... Tiếp đến cho sứ giả Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống kết hảo.
LỊCH SỬ, SỰ THẬT VÀ SỬ HỌC
GS. Hà Văn Tấn
Nguồn: Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.
In trong: Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nhà xuất bản ĐHQGHN, 2007. Đăng lại trên trang web của Khoa Lịch sử, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, ngày 5/5/2010, đường link gốc tại đâyAi ai đều đã bằng câu hếtNước chẳng còn có Sử Ngư!Đó là hai câu thơ cuối cùng trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “Mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng, khi mà mọi người bị uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là người chép sử nước Vệ đời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “Trực tai Sử Ngư!” (Sử Ngư thẳng thay!).
Thứ năm, ngày 22 tháng ba năm 2012
LÀNG, LIÊN LÀNG VÀ SIÊU LÀNG (MẤY SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP)
GS. Hà Văn TấnTạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, 1987; In lại trong sách Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nxb ĐHQGHN, 2007Có nghiên cứu làng xã, chúng ta mới nhận thức đầy đủ xã hội và văn hoá Việt Nam trong lịch sử cũng như tìm được những biện pháp đúng đắn để xây dựng nông thôn mới hiện tại. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu làng xã thật rõ ràng. Có lẽ chẳng cần nói gì thêm về điều này.Chúng ta mừng vì là gần đây đã có những công trình nghiên cứu khá tốt về làng xã, ngoài những phần miêu tả có giá trị, đã nêu lên mô hình nhằm vạch rõ cơ chế của làng xã Việt Nam cổ truyền. Nhưng đáng tiếc là trong đó không ít những khái quát không có mối liên hệ rõ rệt với tài liệu thực tế được mô tả. Thậm chí có những khái quát được mượn từ bên ngoài, có sẵn, đó là những nhận định tưởng như là lô-gích nhưng thực ra là tiên nghiệm. Và đặc biệt là hiện nay, chúng ta thường gặp khá nhiều mệnh đề đánh giá đề cao cái gọi là văn minh xóm làng trong khi rất ít gặp những sự phân tích đầy đủ và thoả đáng về nó.
Thứ hai, ngày 06 tháng hai năm 2012
THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ
PGS.TS. Trần Thị Vinh, Viện Sử họcNguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, truy cập đường link gốc tại đây
Vương triều Lý được thiết lập vào năm 1009, ngay sau thế kỷ bản lề (thế kỷ X) – giành và giữ chính quyền từ tay phong kiến ngoại bang của dân tộc Việt Nam. Từ khi thoát khỏi ách thống trị của phong kiến ngoại bang, nhà nước quân chủ dân tộc Việt Nam bắt đầu được xác lập. Trải qua các triều Ngô – Đinh – Tiền Lê, Nhà nước quân chủ dân tộc đã dần dần được kiện toàn, nhưng vừa ra đời sau đêm trường phụ thuộc, nhà nước thời kỳ này hãy còn non trẻ, chưa hoàn thiện về mặt thiết chế, phải đợi đến những thế kỷ sau, bắt đầu từ thời Lý trở đi mới có điều kiện phát triển và hoàn thiện hơn với những thể chế của nó.
Thứ tư, ngày 01 tháng hai năm 2012
LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX: THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ
GS. Yu Insun, Đại học Quốc gia SeoulNguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt nam học lần thứ ba,
tháng 12/2008, tr. 323 - 344truy cập đường link gốc tại đây
1. Lời nói đầu
Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc. Chúng ta có thể gọi giai đoạn này là “giai đoạn quan hệ triều cống”. Tất nhiên, ở giai đoạn này, Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lược nhiều lần, nhưng ngay sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược này, triều đình Việt Nam đã gửi ngay sứ giả sang Trung Quốc nhằm nỗ lực khôi phục quan hệ hữu hảo và tránh xung đột.
QUYỀN LỰC NHÂN DÂN VÀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC QUA CÁC HIẾN PHÁP
Tác giả: GS.TS. Phạm Hồng Thái
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
đăng ngày 31/1/2012
truy cập đường link gốc tại đây
1. Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 1946Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đứng lên giành độc lập, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, lật đổ chế độ phong kiến, xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Như vậy, về mặt lịch sử, nhân dân Việt Nam chính là người đã giành lại quyền lực, sáng tạo nên lịch sử, quyết định số phận, vận mệnh của mình. Từ đó, lịch sử nước ta hình thành và ghi nhận một cách chính thống nhận thức luận và thực tiễn: nhân dân là cội nguồn của quyền lực, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân.
Thứ ba, ngày 31 tháng một năm 2012
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 (12/2008), truy cập bài viết tại đâyĐặt vấn đềTôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng. Do đó nó có tác động tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục, đạo đức, lối sống, tư tưởng tình cảm của cộng đồng quốc gia dân tộc. Đạo Phật không nằm ngoài quy luật đó. Xuất thế tới Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một đạo nhập thế và có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có chính trị. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng đó tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử nhất định, phụ thuộc vào các chính sách của giai cấp cầm quyền.
KHẢO CỨU VỀ VĂN HIẾN ĐẠI VIỆT QUA TRƯỜNG HỢP HOÀNG ĐẾ LÊ THÁNH TÔNG (5 kỳ)
Tác giả: Trần Trọng Dương,Viện nghiên cứu Hán NômNguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển,đăng lại tại Tạp chí Tia sáng, ngày 30/1/2012truy cập đường link gốc tại đây
Những hành xử của Lê Thánh Tông cả trước và sau khi lên ngôi không những tỏ rõ “khí lượng thiên tử” mà còn cho thấy ông đã được đào tạo một cách bài bản như thế nào về quan niệm trị nước theo tiêu chuẩn của Nho giáo.
Lê Thánh Tông thuộc loại hình nhân vật lịch sử đáng chú ý. Có thể có nhiều cách phân loại khác nhau. Từ quan điểm hiện đại, nhiều người coi ông như một mẫu hình nhà văn hóa của Đại Việt hay nhà chính trị lỗi lạc, nhà thơ lớn của Đại Việt vào thế kỷ XV.
Thứ sáu, ngày 27 tháng một năm 2012
VĂN HÓA TIẾN CỬ XƯA VÀ NAY
Nhiều sử gia tin rằng sự thịnh suy hưng phế của các quốc gia, các triều đại xưa nay đều do con người tạo nên, không phải do mệnh trời hay do lẽ tuần hoàn của tạo hóa. Vẫn biết hết hè thì sang thu, đông tàn rồi xuân thịnh nhưng lịch sử nhân loại có nhiều bằng chứng cho thấy rằng khi nào nhân tài xuất hiện đông đảo và được trọng dụng thì quốc gia thịnh trị, còn khi thiếu vắng nhân tài, quốc gia suy vong.Trong Bình Ngô Đại Cáo, nhà chiến lược Nguyễn Trãi đã khẳng định nước ta là một nước văn hiến, không lúc nào không có bậc hiền tài "dẫu yếu mạnh có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có", nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng khi vận mệnh đất nước lâm nguy, lãnh thổ bị xâm lược, quả thật là cũng có lúc "tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu".
Thứ tư, ngày 14 tháng mười hai năm 2011
HƯƠNG ƯỚC MỚI: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
I. HƯƠNG ƯỚC MỚI: SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN
1. Sự xuất hiện trở lại của hương ước
Hương ước, khoán ước (hay còn gọi nôm na là lệ làng) ở Việt Nam xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV. Đó là những quy ước liên quan đến các mặt của đời sống làng xã được ghi chép thành văn bản (cũng có thể gồm cả những điều lệ không được ghi chép mà truyền khẩu trong dân gian) được cộng đồng làng xã cùng nhau tuân thủ. Hương ước quy định về hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như cách tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ chức trong làng xã; các hội tư văn, tư võ, hội thiện, phe giáp, xóm ngõ; các hoạt động xã hội như hội hè đình đám, tế lễ, tuần phòng, khao vọng, giao hiếu; và một số hoạt động kinh tế. Những quy ước này vừa có những nét chung vừa mang những nét riêng biệt của mỗi làng Việt. Qua thời gian hàng mấy thế kỷ phát triển cho đến trước Cách mạng tháng Tám, hương ước đã trở nên phổ biến ở hầu hết các làng xã Bắc bộ và lan rộng ra các nơi khác. Ngay thời kỳ thuộc địa, hương ước vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Do có chịu ảnh hưởng nhất định của chế độ thực dân nên gọi là hương ước cải lương.
CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN NĂM 1946 – MỘT MỐC SON LỊCH SỬ CỦA THỂ CHẾ DÂN CHỦ VIỆT NAM
Nguồn: Tạp chí khoa học pháp lý, Số 1/2006, truy cập đường link gốc tại đây
Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay là “... tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra Quốc hội. Quốc hội đó là cơ quan có quyền lực tối cao của nhân dân sẽ cử ra một Chính phủ thật sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một hiến pháp dân chủ [1]. Vượt lên muôn vàn khó khăn của thù trong, giặc ngoài với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Nhân kỷ niệm 60 năm cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, việc nghiên cứu để kế thừa và phát triển những quy định của các sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử và thực tiễn tổ chức cuộc Tổng tuyển cử này trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay nói riêng là rất cần thiết và có ý nghĩa.
Thứ sáu, ngày 14 tháng mười năm 2011
MỘT SỐ TƯ LIỆU LỊCH SỬ, PHÁP LÝ VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
Nguồn: Tamnhin.net, đăng ngày 14/10/2011, truy cập tại đây
Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo ở ngoài khơi Việt Nam: quần đảo Hoàng Sa chỗ gần nhất cách đảo Ré, một đảo ven bờ của Việt Nam, khoảng 120 hải lý; cách Đà Nẵng khoảng 120 hải lý về phía Đông; quần đảo Trường Sa chỗ gần nhất cách Vịnh Cam Ranh khoảng 250 hải lý về phía Đông.
Nhận thức của các nhà hàng hải thời xưa về Hoàng Sa và Trường Sa lúc đầu mơ hồ; họ chỉ biết có một khu vực rộng lớn rất nguy hiểm cho tàu thuyền vì có những bãi đá ngầm. Ngày xưa người Việt Nam gọi là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa như các sách và bản đồ cổ của Việt Nam đã chứng tỏ. Hầu như tất cả các bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đều vẽ chung quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa làm một dưới cái tên Pracel, Parcel hay Paracels.1
Thứ sáu, ngày 02 tháng chín năm 2011
ĐỘC LẬP MÀ DÂN KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG HẠNH PHÚC, TỰ DO THÌ ĐỘC LẬP CŨNG KHÔNG CÓ NGHĨA LÝ GÌ
Nguyễn Minh Tuấn
Sáu mươi sáu năm đã trôi qua kể từ ngày đầu tiên của nền độc lập non trẻ. Giá trị của độc lập là vô giá, không gì có thể so sánh được. Nhưng có một câu hỏi khác, thành quả đích thực mà nền độc lập đem lại cho người dân là gì? Với câu hỏi ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng trả lời rất thấu đáo và chính xác: "Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì". (1)“Tự do” không phải là giá trị bất biến, tự nó luôn thay đổi theo thời gian và theo bối cảnh xã hội. “Tự do” của sáu mươi sáu năm trước hẳn sẽ khác với những giá trị của tự do ngày hôm nay. Ngày nay, nhân dân chỉ có được tự do đích thực khi nào mà quyền lực của nhà nước bị giới hạn bởi một bản hiến pháp dân chủ được phúc quyết bởi toàn dân, trong đó xác định rõ những quyền cơ bản, cũng như xác định rõ việc người dân có quyền được lựa chọn, quyền thay đổi Quốc hội, Chính phủ thông qua cuộc bầu cử chân chính.(2) Chỉ khi quyền lực nhà nước bị giới hạn, khi ấy những quyền tự do của người dân mới có điều kiện để được bảo vệ và hiện thực hóa.
Thứ hai, ngày 01 tháng tám năm 2011
HÀNG NGÀN ĐIỂM KHÔNG THI ĐẠI HỌC MÔN SỬ: CHUYỆN BÌNH THƯỜNG?
Nguyễn Minh Tuấn
Trước kết quả thê thảm của môn lịch sử trong kì thi đại học vừa qua, trả lời báo Tuổi trẻ ngày 30/7, người đứng đầu Bộ giáo dục đã cho rằng: "Theo tôi, trong một kỳ thi như kỳ thi đại học vừa qua, có hàng ngàn điểm 0 là bình thường. Đây là kỳ thi cấp quốc gia, là thi tuyển, với mục đích phân loại để làm rõ đâu là người giỏi, người khá, đâu là người yếu kém. Vì vậy, qua quá trình thi lộ ra những học sinh kém là bình thường."
Tôi thực sự không hiểu ngài Bộ trưởng nói "bình thường" là theo nghĩa nào. Đúng là kì thi nào cũng cần phải mang tính phân loại, tìm ra người giỏi, người khá, người yếu kém. Nhưng vấn đề là số lượng, là tỉ lệ bài thi yếu kém đó là bao nhiêu trong tổng thể những người dự thi? Nếu tỉ lệ bài thi yếu kém quá nhiều, hàng nghìn thí sinh không làm được một chút nào, sau khi đã có một thời gian dài ôn luyện, đó chắc chắn phải được xem là việc rất bất bình thường và phải nghiêm túc xem xét lại từ cách dạy, cách học và cách đánh giá. Đơn giản hơn là giáo viên, nếu môn học giáo viên đó dạy mà có quá nhiều điểm 0, điểm yếu kém, thì việc đầu tiên người giáo viên cần làm là phải tự xem lại mình, mà có biện pháp khắc phục, sửa chữa. Huống chi đây lại là người đứng đầu ngành giáo dục của cả một nước, kết quả thi thấp như thế, một thực trạng đáng báo động như thế, vậy mà ngài Bộ trưởng lại thản nhiên cho rằng đó là việc BÌNH THƯỜNG.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








