Hiển thị các bài đăng có nhãn Thông sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thông sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 17 tháng 5 năm 2012

CƠ SỞ CHO NIỀM TIN

Thời điểm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thời khắc đặc biệt đáng nhớ trong lịch sử Việt nam.
Thời khắc này đáng nhớ ít nhất bởi hai lẽ: chưa lúc nào trong lịch sử, chúng ta lại nghèo khó đến như thế nhưng cũng chưa có lúc nào trong lịch sử, chúng ta lại có NIỀM TIN đối với chính quyền, với tương lai của đất nước lớn lao đến như thế. 

Hãy cùng nhớ lại, sau Cách mạng, quốc khố lúc đó gần như trống rỗng, cả kho bạc chỉ còn 1,2 triệu đồng, quá nửa trong số đó là tiền rách, nát, không tiêu được. Vậy mà chỉ trong Tuần lễ Vàng, trong một thời gian rất ngắn, nhân dân đã quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kilôgam vàng. Đáng lưu ý là riêng gia đình doanh nhân Trịnh Văn Bô (1914 - 1988) đã ủng hộ cho Chính phủ Cách mạng lâm thời lúc đó là 5.147 lượng vàng, một số tiền gấp đôi ngân khố của cả nước bấy giờ. 

Thứ Năm, ngày 22 tháng 3 năm 2012

LÀNG, LIÊN LÀNG VÀ SIÊU LÀNG (MẤY SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP)

                                                                            GS. Hà Văn Tấn
Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, 1987; In lại trong sách Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nxb ĐHQGHN, 2007
 
 Có nghiên cứu làng xã, chúng ta mới nhận thức đầy đủ xã hội và văn hoá Việt Nam trong lịch sử cũng như tìm được những biện pháp đúng đắn để xây dựng nông thôn mới hiện tại. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu làng xã thật rõ ràng. Có lẽ chẳng cần nói gì thêm về điều này.
Chúng ta mừng vì là gần đây đã có những công trình nghiên cứu khá tốt về làng xã, ngoài những phần miêu tả có giá trị, đã nêu lên mô hình nhằm vạch rõ cơ chế của làng xã Việt Nam cổ truyền. Nhưng đáng tiếc là trong đó không ít những khái quát không có mối liên hệ rõ rệt với tài liệu thực tế được mô tả. Thậm chí có những khái quát được mượn từ bên ngoài, có sẵn, đó là những nhận định tưởng như là lô-gích nhưng thực ra là tiên nghiệm. Và đặc biệt là hiện nay, chúng ta thường gặp khá nhiều mệnh đề đánh giá đề cao cái gọi là văn minh xóm làng trong khi rất ít gặp những sự phân tích đầy đủ và thoả đáng về nó.

Thứ Tư, ngày 01 tháng 2 năm 2012

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX: THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

GS. Yu Insun, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt nam học lần thứ ba,
tháng 12/2008, tr. 323 - 344
truy cập đường link gốc tại đây

1. Lời nói đầu

Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.
Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc. Chúng ta có thể gọi giai đoạn này là “giai đoạn quan hệ triều cống”. Tất nhiên, ở giai đoạn này, Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lược nhiều lần, nhưng ngay sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược này, triều đình Việt Nam đã gửi ngay sứ giả sang Trung Quốc nhằm nỗ lực khôi phục quan hệ hữu hảo và tránh xung đột.

Thứ Ba, ngày 31 tháng 1 năm 2012

KHẢO CỨU VỀ VĂN HIẾN ĐẠI VIỆT QUA TRƯỜNG HỢP HOÀNG ĐẾ LÊ THÁNH TÔNG (5 kỳ)

Tác giả: Trần Trọng Dương, 
Viện nghiên cứu Hán Nôm
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển,
đăng lại tại Tạp chí Tia sáng, ngày 30/1/2012
truy cập đường link gốc  tại đây




Những hành xử của Lê Thánh Tông cả trước và sau khi lên ngôi không những tỏ rõ “khí lượng thiên tử” mà còn cho thấy ông đã được đào tạo một cách bài bản như thế nào về quan niệm trị nước theo tiêu chuẩn của Nho giáo. 

Lê Thánh Tông thuộc loại hình nhân vật lịch sử đáng chú ý. Có thể có nhiều cách phân loại khác nhau. Từ quan điểm hiện đại, nhiều người coi ông như một mẫu hình nhà văn hóa của Đại Việt hay nhà chính trị lỗi lạc, nhà thơ lớn của Đại Việt vào thế kỷ XV. 

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 1 năm 2012

VĂN HÓA TIẾN CỬ XƯA VÀ NAY

Huỳnh Bửu Sơn
Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần, 
đăng ngày 9/1/2012, truy cập tại đây

Nhiều sử gia tin rằng sự thịnh suy hưng phế của các quốc gia, các triều đại xưa nay đều do con người tạo nên, không phải do mệnh trời hay do lẽ tuần hoàn của tạo hóa. Vẫn biết hết hè thì sang thu, đông tàn rồi xuân thịnh nhưng lịch sử nhân loại có nhiều bằng chứng cho thấy rằng khi nào nhân tài xuất hiện đông đảo và được trọng dụng thì quốc gia thịnh trị, còn khi thiếu vắng nhân tài, quốc gia suy vong. 

Trong Bình Ngô Đại Cáo, nhà chiến lược Nguyễn Trãi đã khẳng định nước ta là một nước văn hiến, không lúc nào không có bậc hiền tài "dẫu yếu mạnh có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có", nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng khi vận mệnh đất nước lâm nguy, lãnh thổ bị xâm lược, quả thật là cũng có lúc "tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu".

Thứ Năm, ngày 21 tháng 4 năm 2011

SO SÁNH LƯỠNG ĐẦU CHẾ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

VỀ CƠ CHẾ HAI CHÍNH QUYỀN CÙNG SONG SONG TỒN TẠI 
TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nguồn: Trang web của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội
Bài viết đăng ngày 21/5/2010, truy cập gần nhất ngày 7/4/2011

I.  
Không chỉ riêng Việt Nam và Nhật Bản, trong lịch sử thế giới, cơ chế hai chính quyền cùng song song tồn tại (hay còn gọi là lưỡng đầu chế) cũng đã xuất hiện và xuất hiện rất sớm.

Người ta từng biết, trong lịch sử Hi Lạp cổ đại, nhà nước Sparta (thế kỉ IX – VI TCN) đã được điều hành bởi hai vua. Trên danh nghĩa, hai vua có quyền ngang nhau, vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là thủ lĩnh quân sự, vừa là người nắm thế lực tôn giáo và cũng đồng thời là những người có quyền định đoạt về tư pháp. Sự tồn tại của hai vua với tư cách là thành viên của Hội đồng trưởng lão, cơ quan có quyền lực cao nhất, là những biểu hiện sinh động về “tính chất dân chủ” của loại hình nhà nước cộng hoà quý tộc(1). Nhà nước này vẫn còn thấy ngưng đọng trong thiết chế chính trị của nó những dấu ấn cổ sơ của xã hội công xã – thành bang.

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 10 năm 2010

HÀ NỘI MỘT NGÀN NĂM - NGHĨ VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN


Nguyễn Minh Tuấn

Một ngàn năm trước, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư (kinh đô của nước Đại Cồ Việt) về Đại La với mong muốn tính kế muôn đời cho con cháu.
Một ngàn năm trước, nhà Lý đã mở đầu kỷ nguyên văn minh Đại Việt, tạo dựng nền tảng của chính quyền "khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc" (thời Lý - Trần) tồn tại gần bốn thế kỷ. Vì đâu mà một dân tộc đất không rộng, người không đông lại có thể ba lần dành chiến thắng trước một đội quân thiện chiến tầm cỡ thế giới như quân Nguyên Mông - một đội quân đã chiếm gần hết Châu Âu và vùng Trung Cận Đông, san bằng thành trì nước Tống và đô hộ toàn bộ nước Trung Quốc xưa? Sau này, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã tổng kết, lý giải rằng ta thắng được giặc, giữ vững được bờ cõi là bởi lòng dân - “do trên dưới đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước cùng góp sức”.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 11 năm 2007

NHÀ GIÁO CHU VĂN AN (1292 - 1370)

Nguyễn Minh Tuấn

1. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu, nổi tiếng của nước nhà. Tên tự của thầy là Linh Triệu, hiệu là Tiều Ẩn, quê ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà nội). Thời trẻ, thầy Chu Văn An học rất giỏi, tính tình thẳng thắn, không màng công danh, ở nhà dạy học. Thầy là người nổi tiếng nghiêm khắc, trọng tài năng học trò và coi thường những người cậy giàu ham chơi. Học trò của thầy Chu Văn An có nhiều người giỏi, có công giúp nước như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát v.v..
2. Vua Trần Minh Tông nghe tiếng đã mời ông ra làm Tư nghiệp (thời Trần là Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám và dạy Thái Tử học. Thời Trần Dụ Tông (1341 - 1369) chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, làm nhiều điều sai trái. Ông đã dâng sớ xin chém 7 nịnh thần (Thất trảm sớ). Tuy nhiên những ý kiến này của Chu Văn An đã không được vua chấp nhận.
Ngay sau đó, ông đã treo ấn từ quan về sống ở núi Phụng Hoàng, núi Chí Linh (Hải Dương), những những khi triều hội lớn vẫn chống gậy về kinh dự bàn. 

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 11 năm 2007

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

Nguyễn Minh Tuấn

1. Thông qua các cuộc hôn nhân với các tù trưởng có thế lực bằng việc hoặc là gả con gái cho các tù trưởng, hoặc đôi khi nhà vua lấy con gái tù trưởng làm phi, nhằm tạo nên mối quan hệ mật thiết giữa họ với triều đình trung ương theo kiểu gia tộc nhằm quản lý những vùng lãnh thổ và cư dân vùng biên viễn.
Ví dụ:
- Lý Công Uẩn đã gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu (vùng Bắc Giang và phía Nam Lạng Sơn hiện nay);
- Năm 1029, Lý Công Uẩn gả công chúa Bình Dương cho Thiệu Thái
- Năm 1036, Lý Thái Tông gả công chúa Kim Thành cho Châu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận (vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Sơn Tây hiện nay)
- Lý Thái Tông lấy con gái của Đào Đại Di vùng Châu Đăng (Hưng Hóa) làm phi, đồng thời gả công chúa Ngọc Kiều cho Châu mục châu Chân Đăng;
- Vua Trần Nhân Tông gả con gái là Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Chế Mân đem đất Châu Ô, Châu Lý làm vật dẫn cưới. Sau hai Châu đó đổi thành Châu Thuận và Châu Hóa, thường gọi là vùng đất Thuận Hóa.