Nhà báo Đoan TrangNguồn: Blog nhà báo Đoan Trang,đăng ngày 29/3/2012,truy cập đường link gốc tại đâyDành thời gian đọc, sau đó phân tích các lỗi ngụy biện ở một bài viết như bài “Kính thưa ‘quý cô cái gì cũng muốn’” của tác giả Hoàng Thắng trên Petro Times (http://www.baomoi.com/Home/AmNhac/www.petrotimes.vn/Kinh-thua-quy-co-cai-gi-cung-muon/8162668.epi) là một việc có lẽ chỉ nên làm trong lúc rảnh quá. Tuy nhiên, xét thấy sự ngụy biện đang lan tràn trong tất cả các cuộc tranh luận trên mạng, trên không gian báo chí, không loại trừ cả không gian học thuật, nên tôi nghĩ việc chỉ ra các lỗi ngụy biện sơ đẳng trong bài viết này cũng là điều cần thiết. Bên cạnh các lỗi ngụy biện là một số sai sót về kỹ thuật viết báo, tôi cũng sẽ cố gắng chỉ ra một phần.
Thứ sáu, ngày 30 tháng ba năm 2012
NGỤY BIỆN VÌ ÔNG ĐINH LA THĂNG
Labels:
Thông tin đa chiều
THIÊN ĐÔ CHIẾU CỦA VUA LÝ CÔNG UẨN - NHỮNG GIÁ TRỊ CHƯA BAO GIỜ CŨ
PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế,
Nguồn: Bài in trong Kỷ yếu Hội thảo 1000 năm Vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội, 2009, đăng lại trên website của Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, ngày 20/5/2010,
truy cập đường link gốc tại đây
1. Mùa xuân năm 1010, vài tháng sau khi Triều Lý được thành lập, và sau tết đầu tiên trên cương - vị - vua ở kinh thành Hoa Lư (Hoa Lau), Lý Công Uẩn về thăm hương Cổ Pháp, cho các bô lão trong hương tiền, lụa; viếng đền vị anh hùng làng Dóng và tặng thần danh hiệu Xung thiên thần vương (Thần vương xông lên trời)... Tiếp đến cho sứ giả Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống kết hảo.
LỊCH SỬ, SỰ THẬT VÀ SỬ HỌC
GS. Hà Văn Tấn
Nguồn: Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.
In trong: Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nhà xuất bản ĐHQGHN, 2007. Đăng lại trên trang web của Khoa Lịch sử, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, ngày 5/5/2010, đường link gốc tại đâyAi ai đều đã bằng câu hếtNước chẳng còn có Sử Ngư!Đó là hai câu thơ cuối cùng trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “Mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng, khi mà mọi người bị uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là người chép sử nước Vệ đời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “Trực tai Sử Ngư!” (Sử Ngư thẳng thay!).
CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ CỦA VIỆT NAM TRÊN VÙNG ĐẤT NAM BỘ
GS.TSKH Vũ Minh GiangNguồn: Bài in trong sách Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001 - 2006), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2006, đăng lại tại website của Khoa lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, ngày 6/5/2010, truy cập đường link gốc tại đây
Từ lâu Nam Bộ đã là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Vịêt Nam, nhưng do tính chất phức tạp của lịch sử nên cho đến nay vấn đề chủ quyền lãnh thổ (territorial sovereignty) vẫn còn có những nhận thức chưa thật đầy đủ. Trên cơ sở trình bày một cách hệ thống diễn biến lịch sử và phân tích những yếu tố khẳng định tính chất chính đáng, phù hợp với thông lệ quốc tế của quá trình thụ đắc lãnh thổ phía nam của dân tộc ta, bài viết này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học và nâng cao thêm hiểu biết về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.
Labels:
Thông sử
Thứ năm, ngày 29 tháng ba năm 2012
THÊM MỘT LỜI BÀN VỀ THỂ CHẾ BẢO HIẾN
Minh họa: Khều PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa
Nguồn: Tạp chí Tia sáng, 29/3/2012,
truy cập đường link gốc tại đây
Từ hơn 10 năm trở lại đây, tình hình nghiên cứu các mô hình và bài học nước ngoài về thể chế bảo hiến trên các diễn đàn hoạch định chính sách và hàn lâm ở VN trở nên sôi nổi, bởi vì quyết định lựa chọn một trong vô số mô hình đã là khó, song làm thế nào để mô hình được chọn đó sống, hoạt động hiệu quả trong bối cảnh kinh tế, chính trị và văn hóa VN mới là điều khó gấp bội.
Trong lịch sử hiến pháp Việt Nam, dấu ấn của phân quyền và chế ước đã xuất hiện sớm trong bản Hiến pháp năm 1946. Có thể so sánh vị thế của Chủ tịch nước với nghị viện nhân dân theo Hiến pháp 1946 để làm rõ ý này. Các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 về sau này đi theo mô hình Hiến pháp Xô Viết không thực hiện tam quyền phân lập. Mãi đến 2001 bản Hiến pháp mới dè dặt được sửa thêm rằng quyền lực nhà nước cần có sự phân công và phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ hai, ngày 26 tháng ba năm 2012
BỎ PHIẾU TÍN NHIỆM CHO THẤY DÂN QUYỀN
Nguyễn Minh TuấnNguồn: BBC Vietnamese, đăng ngày 26/3/2012, đường link gốc tại đây
Theo dự thảo đề án đổi mới hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội vừa thống nhất việc bỏ phiếu tín nhiệm hàng năm với các chức danh do Quốc hội bầu, bao gồm cả Thủ tướng và Chủ tịch nước.
Dự thảo này được Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc thông báo ngày thứ sáu 23/3, sau khi Ủy ban Thường vụ có phiên thảo luận đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.[1]
BỎ PHIẾU TÍN NHIỆM VÀ THĂM DÒ TÍN NHIỆM Ở ĐỨC
Nguyễn Minh TuấnNguồn: Tuần Việt Nam, đăng ngày 26/3/2012,truy cập đường link gốc tại đâyBỏ phiếu tín nhiệm chính là công cụ của Nghị viện nhằm kiểm soát quyền lực của Chính phủ. Bỏ phiếu tín nhiệm phải mang trong nó ý nghĩa cải tổ, xây dựng, ngăn chặn sự tồn tại kéo dài một Chính phủ yếu kém.
Ở CHLB Đức, công cụ quan trọng nhất của Hạ nghị viện nhằm kiểm soát quyền lực Chính phủ là Hạ viện có quyền tuyên bố bất tín nhiệm Thủ tướng.
Lần đầu tiên trong lịch sử của Đức vấn đề Hạ nghị viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng được đặt ra tại Điều 54 Hiến pháp dân chủ của Cộng hòa Weimar năm 1919. Sau một thời gian thực hiện, qui định này tỏ ra bất cập, vì theo qui định này Hạ viện có quyền bất tín nhiệm Thủ tướng, nhưng không qui định nghĩa vụ của Hạ viện phải đồng thời tìm ra được một người kế nhiệm thay thế Thủ tướng xứng đáng hơn. Những nhà khoa học và các chính trị gia cho rằng qui định này không chứa đựng trong đó yếu tố xây dựng hay cải tổ (destruktives Missvertrauensvotum) và có thể dẫn tới nguy cơ chia rẽ nội bộ hoặc duy trì một Chính phủ yếu, thiếu bền vững.[1]
Rút kinh nghiệm từ Hiến pháp cộng hòa Weimar, Luật cơ bản (LCB) của Cộng hòa liên bang Đức[2] sau này tại Điều 67 Khoản 1 Câu 1 đã qui định Hạ viện chỉ có thể tuyên bố chính thức bất tín nhiệm Thủ tướng khi Hạ nghị viện đã bầu ra được một Thủ tướng kế nhiệm mới với tỷ lệ đa số tuyệt đối. Quy định này được gọi là bỏ phiếu tín nhiệm có tính chất xây dựng và cải tổ (konstruktives Missvertrauensvotum).[3]
Labels:
Góc nhìn pháp luật và cuộc sống
Thứ năm, ngày 22 tháng ba năm 2012
CÁC ĐẶC ĐIỂM KHÁI QUÁT CỦA PHÁP LUẬT TRÊN THẾ GIỚI VÀ QUÁ TRÌNH HỢP TÁC, HỘI NHẬP TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT
GS. TS. Võ Khánh VinhQuá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật, cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần được lý giải tường tận. Trên bình diện lý luận, để phục vụ cho quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật có hiệu quả, trước hết cần phải làm rõ các đặc điểm khái quát của pháp luật trên thế giới. Bởi lẽ điều đó có ý nghĩa nhận thức, lý luận và thực tiễn rất quan trọng đối với hướng “tiếp nhận” pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia khác và “đưa” pháp luật của chúng ta ra bên ngoài. Đó là hai mặt biện chứng không thể thiếu được của quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật. Việc làm sáng tỏ các đặc điểm khái quát của pháp luật trên thế giới quy tụ lại ở việc làm rõ các vấn đề sau:1. Trong thời đại ngày nay pháp luật thể hiện sự kết hợp “yếu tố dân tộc”, “yếu tố quốc tế” và “yếu tố tự phát triển” như thế nào?2. Ở phạm vi toàn thế giới pháp luật có các khuynh hướng phát triển chung như thế nào?3. Các hệ thống pháp luật trên thế giới có sự khác biệt như thế nào?
Labels:
Lý luận nhà nước và pháp luật
LÀNG, LIÊN LÀNG VÀ SIÊU LÀNG (MẤY SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP)
GS. Hà Văn TấnTạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, 1987; In lại trong sách Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nxb ĐHQGHN, 2007Có nghiên cứu làng xã, chúng ta mới nhận thức đầy đủ xã hội và văn hoá Việt Nam trong lịch sử cũng như tìm được những biện pháp đúng đắn để xây dựng nông thôn mới hiện tại. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu làng xã thật rõ ràng. Có lẽ chẳng cần nói gì thêm về điều này.Chúng ta mừng vì là gần đây đã có những công trình nghiên cứu khá tốt về làng xã, ngoài những phần miêu tả có giá trị, đã nêu lên mô hình nhằm vạch rõ cơ chế của làng xã Việt Nam cổ truyền. Nhưng đáng tiếc là trong đó không ít những khái quát không có mối liên hệ rõ rệt với tài liệu thực tế được mô tả. Thậm chí có những khái quát được mượn từ bên ngoài, có sẵn, đó là những nhận định tưởng như là lô-gích nhưng thực ra là tiên nghiệm. Và đặc biệt là hiện nay, chúng ta thường gặp khá nhiều mệnh đề đánh giá đề cao cái gọi là văn minh xóm làng trong khi rất ít gặp những sự phân tích đầy đủ và thoả đáng về nó.
Thứ sáu, ngày 16 tháng ba năm 2012
BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP
GS.TS. Nguyễn Đăng Dung,ThS. Nguyễn Thị Thủy,Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 6/2011, tr.3–8, truy cập đường link gốc tại đây
1. Sự cần thiết phải xác định rõ chức năng căn bản của Hiến pháp trong xã hộiTheo Dele Olowu, tác giả cuốn sách về công cuộc chống tệ nạn tham nhũng của Châu Phi thì “Một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao ngày nay tình trạng tham nhũng trong chính phủ lại lan tràn ở châu Phi là: người ta đã dành quá nhiều nỗ lực để tìm cách cứu chữa vấn đề đó hơn là để hiểu được nó”.[1]
Chúng tôi cho rằng, nhận định trên không chỉ đúng cho trường hợp tham nhũng ở châu Phi, mà còn có thể đúng cho mọi trường hợp, trong đó cả công cuộc đang tiến hành sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam hiện nay. Muốn cho việc sửa đổi Hiến pháp của chúng ta thắng lợi thì trước hết chúng ta phải hiểu được những vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Một trong những vấn đề cơ bản đó là chức năng của Hiến pháp.
Thứ tư, ngày 14 tháng ba năm 2012
BA GIÁ TRỊ CỐT LÕI CỦA LUẬT CƠ BẢN ĐỨC
Luật cơ bản (Grundgesetz) là văn bản pháp lý có giá trị và hiệu lực cao nhất trong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật ở Đức hiện nay. Hơn 60 năm, trải qua bao biến cố lịch sử, văn bản pháp lý này vẫn chứng tỏ sức sống kì diệu của nó và vẫn tiếp tục có đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung trên nhiều phương diện ở nước Đức. Câu hỏi đặt ra vậy đâu là những giá trị căn bản nhất, những giá trị có tính chất nền tảng, quyết định nhất khiến cho văn bản pháp lý này có sức sống lâu dài như vậy? Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tôi cho rằng Luật cơ bản Đức có ba giá trị cốt lõi nhất và có ý nghĩa nhất sau đây:
Thứ hai, ngày 12 tháng ba năm 2012
ĐẠO VÒNG, ĐẠO THẲNG
Cuộc sống sẽ nhẹ đi biết bao nhiêu, nếu “Đạo Thẳng” được mỗi chúng ta và cả xã hội chấp nhận.
Đạo Vòng
Nền văn hóa ý nhị truyền thống của xứ Việt tự bao giờ luôn nhắn nhủ chúng ta chuộng nhìn chếch.Nhìn chếch có nhiều vẻ đẹp của nó. Một cô gái nết na thời xưa bao giờ cũng nhìn chếch. Đôi mắt lá dăm càng hợp cho vẻ đẹp này. Rộng hơn nữa, xứ Đông là như thế. “Mắt đi mày đến”, “nhãn khứ mi lai” là cách tả vẻ đẹp chênh chếch ý nhị này.
Nhìn thẳng chỉ hợp pháp, nếu là bề trên nhìn bề dưới.
Những người “ngang hạng” nhau, cũng phải tránh nhìn thẳng. Trong nhiều trường hợp việc nhìn thẳng người (có vẻ) ngang hạng hay người (có vẻ) trên hạng được tự động suy dịch ra như sự thách thức, và bạo lực, tinh thần hay vật chất, có thể chỉ vì thế mà được châm ngòi.
Nhìn thẳng đã phức tạp là thế. Khi ra đường bạn cũng phải cẩn thận.
Nói thẳng càng phức tạp hơn, vì bằng chứng rõ ràng hơn.
Labels:
Thông tin đa chiều,
Văn hóa pháp luật
Thứ bảy, ngày 10 tháng ba năm 2012
KHI PHÁI ĐẸP KHÔNG CÒN LÀ CHÍNH HỌ
Nguyễn Minh TuấnNguồn: Báo NguoiViet.deđăng ngày 10/3/2012,truy cập đường link gốc tại đây
Phụ nữ là ai? Phụ nữ là người có nhiều thiệt thòi, nhưng...họ cũng là người có những ưu ái mà đàn ông không thể có, đó là họ xinh đẹp, họ là phái đẹp và có thiên chức làm vợ, làm mẹ.Nhiều ưu ái thế, nhưng nhiều người vẫn không ngừng đấu tranh cho cái gọi là bình đẳng nam nữ một cách thái quá. Liệu họ có biết rằng THẾ GIỚI NÀY KHÔNG CÓ VÀ SẼ KHÔNG BAO GIỜ CÓ SỰ BÌNH ĐẲNG NAM NỮ TUYỆT ĐỐI hay không?Nam nữ sinh ra vốn đã là khác nhau và bất bình đẳng. Tự nhiên đã là như thế. Phụ nữ đấu tranh cho bình đẳng, vậy thì xin hãy cứ tiếp tục đấu tranh, hãy cứ làm những gì mình muốn, nhưng hãy cẩn thận, HỌ SẼ KHÔNG CÒN LÀ PHỤ NỮ NỮA, nếu như họ cứ muốn cái gì cũng phải như nam giới hoặc là hơn nam giới.
Thứ năm, ngày 08 tháng ba năm 2012
XIN HÃY LÀ MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG
Nguyễn Minh TuấnNguồn: Báo NguoiViet.de,đăng ngày 8/3/2012,truy cập đường link gốc tại đây
Đã qua lâu rồi, nhưng tôi vẫn còn nhớ một kỉ niệm mà có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên đó là ngày 8/3 đầu tiên sống trên nước Đức.
Hôm đó, vì nghĩ là ngày quốc tế phụ nữ, tôi hồ hởi đến trường từ rất sớm, chúc mừng bà thư ký và các bạn nữ đồng nghiệp. Khi tôi chúc mừng mọi người ai cũng ngỡ ngàng, ngạc nhiên và...cười, vì chẳng ai nhớ hôm đó là ngày quốc tế phụ nữ cả. (!?)
Ngày hôm đó tôi đã có một buổi trao đổi thật sự rất thú vị với bạn đồng nghiệp của mình. Bạn chia sẻ rằng đã có một thời ở Đông Đức (DDR) người ta rêu rao khẩu hiệu "bình đẳng" (Gleichheit), nhưng thực tế đây là một khái niệm mơ hồ, không tưởng, những điều chỉ tồn tại ở trên thiên đường, còn ở Tây Đức (BRD) thì người ta thực tế hơn, họ đấu tranh đòi các quyền tự do (Freiheit) như tự do biểu tình, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đình công, tự do nghiên cứu khoa học, quyền được tham gia vào đời sống chính trị.... Sau này khi nước Đức thống nhất và cho đến hôm nay, phụ nữ Đức đã được hưởng những quyền tự do như thế, không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật mà được thực thi, hiện hữu trong cuộc đời thực.
Thứ tư, ngày 07 tháng ba năm 2012
KHI ĐÀ NẴNG BỊ "TUÝT CÒI" VI HIẾN
TS. Đặng Minh TuấnKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nộiNguồn: Tuần Việt Nam, đăng ngày 5/3/2012,truy cập đường link gốc tại đâyNghị quyết số 23 của HĐND Đà Nẵng mới đây đã bị nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền khẳng định là trái Hiến pháp và Luật. Vụ việc lần này của Đà Nẵng một lần nữa lại đặt ra vấn đề văn hóa tôn trọng Hiến pháp ở đất nước ta.Trước sức ép của sự phát triển đô thị về hạ tầng cơ sở, y tế, giáo dục, HĐND TP. Đà Nẵng đã ban hành Nghị quyết 23 về những giải pháp phát triển KT-XH ngày 24/12/2011 để hạn chế nhập cư của một số đối tượng, cụ thể là "tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự". Mặc dù Chính sách hướng tới xây dựng "một thành phố hấp dẫn và đáng sống", Nghị quyết 23 bị coi là trái Hiến pháp và Luật.
GÓP BÀN VỀ TỘI DANH GIẾT NGƯỜI VÀ VỤ VIỆC ĐOÀN VĂN VƯƠN
Liên quan đến tội giết người, TS. Nguyễn Sỹ Phương đã có loạt bài viết đăng trên Tia sáng phân tích các khía cạnh khác nhau của tội phạm này theo Luật hình sự Việt nam và Luật hình sự Đức. Tiếp tục góp bàn về chủ đề này, trong phần trình bày dưới đây tôi xin chia sẻ hai vấn đề: So sánh qui định về vấn đề tội phạm, tội giết người đã hoàn thành và tội giết người chưa đạt căn cứ theo Bộ luật hình sự (BLHS) Đức và Bộ luật hình sự Việt nam và đưa ra quan điểm riêng về việc có hay không hành vi phòng vệ chính đáng của Đoàn Văn Vươn theo pháp luật hình sự Việt Nam.
1. So sánh vấn đề tội phạm, tội giết người và phạm tội chưa đạt theo Bộ luật hình sự Đức và Bộ luật hình sự Việt nam
a. Vấn đề tội phạm
TS. Nguyễn Sỹ Phương trong bài viết “Bàn định tội danh giết người”[1] đã cho rằng: "Ở Đức, những tội hình sự liên quan tới tính mạng con người, nếu chia theo dấu hiệu hậu qủa tội phạm, có thể phân loại thành 2 nhóm tội danh, nhóm tội danh chấm dứt sự sống của nạn nhân, tức phải có dấu hiệu người chết, và nhóm tội danh không chấm dứt sự sống nạn nhân, không có dấu hiệu người chết. Nhóm tội danh có động cơ chấm dứt sự sống con người nhưng không có dấu hiệu chết người, gồm tội danh, như: – Tội mưu sát (khi chưa hành động). – Tìm cách giết người, hay còn gọi giết người bất thành (hành vi giống tội giết người, nhưng nạn nhân may mắn không chết)."
SỰ KIỆN ĐOÀN VĂN VƯƠN VÀ NAN ĐỀ LUẬT HÌNH SỰ
Khu đất bị giải tỏa của gia đình ông Đoàn Văn Vươn TS. Nguyễn Sỹ PhươngNguồn: Tạp chí Tia sáng,đăng ngày 5/3/2012,truy cập đường link gốc tại đâyKhông một nhà nước nào, tự nó ban hành nổi một hệ thống văn bản luật đầy đủ công minh cả; mà chỉ có thể tạo ra một quy trình tự động hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, kịp thời, một khi nó tỏ ra bất lực trước những vấn đề xã hội nảy sinh. Tính tự động đó chỉ có ở một thể chế buộc được chính khách, dân biểu vốn đại diện cho lợi ích của người dân phải lên tiếng, mọi cơ quan nhà nước phải hành động, trước tiếng nói của đông đảo dân chúng, của các tổ chức dân sự, của công luận.
Labels:
Góc nhìn pháp luật và cuộc sống
TỪ VỤ VIỆC Ở TIÊN LÃNG, NGHĨ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Nguồn: Nghiên cứu lập pháp,đăng ngày 1/3/2012,truy cập đường link gốc tại đâyVụ việc Tiên Lãng xảy ra đúng thời điểm cả nước đang tiến hành tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992 và thảo luận sửa đổi Hiến pháp này. Vụ Tiên Lãng là một vụ việc rất điển hình mà khi xem xét, đánh giá, có thể thấy nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực nhà nước và xã hội, từ lập pháp đến hành pháp; từ hành pháp đến tư pháp; từ nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; từ công tác quân sự cho đến chính trị dân sự, từ trách nhiệm của chính quyền, của Nhà nước đến quyền lợi, ích hợp pháp của người dân…
Labels:
Góc nhìn pháp luật và cuộc sống
SINH VIÊN - BẠN LÀ AI?
TS. Nguyễn Thị Từ HuyNguồn: Tia sáng, đăng ngày 3/3/2012truy cập đường link gốc tại đâyĐể viết bài này, tôi suy nghĩ như một sinh viên, chứ không phải như một giáo viên - cái vai trò mà giờ đây tôi không còn đảm nhiệm nữa.
Tôi tự hỏi, nếu tôi là một sinh viên, trong môi trường giáo dục như thế này, tôi phải làm gì ? Cũng may là tôi vừa mới kết thúc đời sinh viên cách đây chưa lâu. Nói là sinh viên thì không hẳn đúng, nghiên cứu sinh dù sao cũng có những điểm khác biệt với sinh viên. Nhưng tôi đã sống một cuộc sống sinh viên trong giai đoạn làm nghiên cứu sinh của mình. Và làm sinh viên ở một môi trường khác, nên có thêm những kinh nghiệm khác, để từ đó mà tiếp tục suy nghĩ về vấn đề này.
Dưới đây là một vài ý nghĩ tản mạn, không lý luận, không hệ thống và chưa phải đã đi tận cùng mọi phương diện.
Labels:
Giáo dục
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

Bỏ
phiếu tín nhiệm chính là công cụ của Nghị viện nhằm kiểm soát quyền lực
của Chính phủ. Bỏ phiếu tín nhiệm phải mang trong nó ý nghĩa cải tổ,
xây dựng, ngăn chặn sự tồn tại kéo dài một Chính phủ yếu kém.



