Thứ Bảy, ngày 25 tháng 2 năm 2012

BÀN ĐỊNH TỘI DANH GIẾT NGƯỜI

TS. Nguyễn Sĩ Phương
Nguồn: Tạp chí Tia sáng,
đăng ngày 24/2/2012, truy cập đường link gốc tại đây



Sự kiện Đoàn Văn Vươn, Tiên Lãng chấn động người Việt cả trong lẫn ngoài nước, bởi vừa đụng chạm tới lương tri, bản chất nhân đạo của con người không thể ngoảnh mặt trước vận mệnh bất cứ đồng loại nào của mình, vừa đánh vào ý thức chủ nhân đất nước của mỗi công dân phải có trách nhiệm lên tiếng trước mọi vấn đề hệ trọng của đất nước, nền tảng cho mọi quyết sách hợp lòng dân của chính quyền. 

Về mặt khoa học hình sự, tội danh tức tên gọi tội trạng, mỗi con người có 1 tên gọi, thì mỗi tội trạng cũng có một tội danh, để phân biệt với các tội danh khác, bao giờ cũng được ấn định kèm khung hình phạt dành riêng cho nó trong bộ luật hình sự ở bất kỳ quốc gia nào, và do chỉ nhìn nhận dưới góc độ hình sự, nên thường không khác mấy giữa các chính thể khác nhau. Mỗi tội danh được thành lập bởi một hay nhiều dấu hiệu, hành vi tội phạm. 

Thứ Tư, ngày 22 tháng 2 năm 2012

TRAO ĐỔI VỀ BÀI VIẾT: “TỘI GIẾT NGƯỜI KHÔNG CÓ NGƯỜI CHẾT?”

Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tạp chí Tia sáng,
đăng ngày 22/2/2012,
truy cập đường link gốc tại đây


Tạp chí Tia sáng ngày 20/2/2012 có đăng bài viết Tội "giết người" không có người chết? của tác giả TS. Nguyễn Sỹ Phương. Bài viết có rất nhiều thông tin thú vị, đề cập đến những vấn đề rất bức xúc hiện nay. Tuy nhiên, sau khi đọc bài viết, tôi thấy có một vài vấn đề còn chưa rõ, rất mong được trao đổi, học hỏi thêm về mặt khoa học cùng với tác giả và bạn đọc dưới đây:

- Cần phân biệt “tội giết người đã hoàn thành” và “tội giết người chưa đạt”

TS. Nguyễn Sỹ Phương cho rằng: "Không luật pháp quốc gia tiên tiến nào cáo buộc phi thực tế, khép tội giết người lại không có người chết như vậy cả. Trong trường hợp này, pháp luật ở ta đã không hội nhập cộng đồng thế giới. Ở họ dấu hiệu đầu tiên cấu thành tội danh giết người phải có bằng chứng là nạn nhân đã chết. [….]Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều tài liệu kể cả từ điển mở tiếng Việt, lại định nghĩa: “Hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “Có khả năng gây ra”, chứ không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành.”

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 2 năm 2012

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH

Nguyễn Minh Tuấn

Quỳnh Anh và phụ huynh. Ảnh: Vietnamgottalent.info
Tài năng đích thực hay chỉ là con hát mẹ khen hay?

Chương trình giải trí trên truyền hình có tên Vietnam‘s got Talent đang thu hút được sự chú ý của dư luận. Sau khi chương trình tuần vừa qua khép lại, đã có rất nhiều người bàn luận về tiết mục biểu diễn của thí sinh Quỳnh Anh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sẽ chẳng có gì đáng để „ồn ào“ như thế, nếu như chỉ thuần túy là việc dự thi và không được lựa chọn để đi tiếp vào vòng sau. Tuy nhiên trường hợp „không được lựa chọn“ này lại không bình thường như những trường hợp khác.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 2 năm 2012

LỰA CHỌN MÔ HÌNH TÀI PHÁN HIẾN PHÁP - NHỮNG VẤN ĐỀ PHỔ BIẾN VÀ ĐẶC THÙ QUỐC GIA

Tác giả: TS. Võ Trí Hảo,
Khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh,
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
truy cập đường link gốc tại đây

Hiện nay, khi vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 được đặt ra, thì việc nghiên cứu để “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”1 là cần thiết. Việc xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp theo hướng nào đang là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau. Trên cơ sở phân tích những yếu tố lịch sử, văn hóa và bối cảnh chính trị nước ta, bài viết kiến nghị một mô hình tài phán hiến pháp. Mô hình này phản ánh, bám sát hoàn cảnh chính trị hiện tại của Việt Nam và cũng tham chiếu thông lệ quốc tế, những chuẩn mực được xem là phổ biến, văn minh, tiến bộ.

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 2 năm 2012

VỤ CƯỠNG CHẾ THU HỒI ĐẤT Ở TIÊN LÃNG: CÓ AI THOÁT TỘI?

Nguyễn Minh Tuấn

Từ một thông tin ban đầu trên báo chí cáo buộc một chiều toàn bộ tội lỗi cho gia đình anh Vươn, đến hôm nay dù muộn, dù chưa làm hài lòng được tất cả những người quan tâm đến vụ việc này, nhưng Thủ tướng cũng đã khẳng định được một vấn đề mấu chốt nhất rằng quyết định thu hồi đất và quyết định cưỡng chế thu hồi đất là trái luật. Khẳng định đó theo tôi đã là một thắng lợi bước đầu của người dân cả nước - những người đã lên tiếng qua báo chí và đặc biệt là mạng Internet về vụ việc này. Tuy nhiên tôi nghĩ vấn đề chắc sẽ không dừng lại ở đây vì thực tế còn rất nhiều người khác liên quan trực tiếp đến việc cưỡng chế vẫn chưa bị xử lý.
Trong bài “Lãnh đạo TP Hải Phòng nói gì? Đăng trên Báo Thanh niên số 34(5886) thứ sáu 03/02/2012, ông Đan Đức Hiệp, Phó chủ tịch thường trực UBND TP Hải Phòng khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Thanh Niên rằng: “Ngày 26/07/2011 anh Lê Văn Hiền, Chủ tịch UBND Huyện Tiên lãng ký văn bản gửi thường trực Thành ủy, Uỷ ban TP báo cáo về việc cưỡng chế đầm của ông Luân, ông Vươn. Trong đó đề nghị TP chỉ đạo các cơ quan chức năng, khối nội chính của TP phối hợp với Huyện Tiên Lãng tổ chức cưỡng chế. Ngày 17/08/2012, sau khi họp giao ban, nghe báo cáo, nhận thấy việc thu hồi khu đầm là cần thiết, lãnh đạo TP đồng ý về chủ trương thu hồi đất. Giao thanh tra TP, CA, sở TN-MT hướng dẫn UBND Huyện Tiên Lãng thực hiện việc cưỡng chế đảm bảo đúng quy định của Pháp luật.” Như vậy thường trực thành ủy, mà đứng đầu là Bí thư Nguyễn Văn Thành cũng như Ủy ban thành phố không thể vô can. Trách nhiệm của họ đến đâu? Không thể chỉ là "kiểm điểm, rút kinh nghiệm", mà là phải "xử lý".

Thứ Hai, ngày 06 tháng 2 năm 2012

CÁI CHỮ NHẪN (忍)

Nguyễn Minh Tuấn
Đầu xuân, nhà giáo Nguyễn Kim Sơn bàn về chữ "Nhẫn" và chữ "Lạc". Thầy Sơn cho rằng "chữ Lạc phải được đặt cao hơn chữ "Nhẫn". "Lạc" ở đây là sự hóa giải mọi niềm phẫn uất để đạt tới an lạc, tự lạc, tự tại"; "Không chỉ nín nhịn mà có thể mỉm cười với những điều có thể gây ra sự khó chịu bực tức."...


Có lẽ vấn đề Thầy Sơn nói quá cao siêu, vượt tầm hiểu biết của tôi, do vậy dù đọc đi đọc lại, tôi vẫn chưa hiểu cần phải làm thế nào để "hóa giải được mọi niềm phẫn uất, đạt tới sự an lạc", làm thế nào để có thể "không chỉ nín nhịn mà còn mỉm cười với những điều có thể gây ra sự khó chịu bực tức".
Trước một vấn đề khó khăn nào đó cần giải quyết, thông thường "người Phương Đông" thường tìm cách né tránh, tránh đối diện với nó và tự cho rằng khó khăn đã qua hoặc đã được giải quyết. "Người Phương Tây" thì khác, không rõ từ bao giờ, họ luôn có thói quen đi trực diện, đi thẳng vào giải quyết những khó khăn một cách không né tránh. Vấn đề càng khó, họ càng thấy thú vị, càng muốn dấn thân để giải quyết. Tôi luôn có suy nghĩ không biết có đúng không rằng, phải chăng vì cách nghĩ, cách làm như thế mà hầu hết các phát minh quan trọng và tiến bộ mà con người ngày nay đạt được về khoa học - kỹ thuật phần lớn đều khởi nguồn từ các nước Phương Tây.

Thứ Tư, ngày 01 tháng 2 năm 2012

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX: THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

GS. Yu Insun, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt nam học lần thứ ba,
tháng 12/2008, tr. 323 - 344
truy cập đường link gốc tại đây

1. Lời nói đầu

Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.
Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc. Chúng ta có thể gọi giai đoạn này là “giai đoạn quan hệ triều cống”. Tất nhiên, ở giai đoạn này, Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lược nhiều lần, nhưng ngay sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược này, triều đình Việt Nam đã gửi ngay sứ giả sang Trung Quốc nhằm nỗ lực khôi phục quan hệ hữu hảo và tránh xung đột.