Chúng ta sắp đi qua một năm 2011 sôi động với những sự kiện nổi bật, biến chuyển sâu sắc của đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục..., và đã được phản ánh sinh động qua bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam .
Lạm phát và đòi hỏi tái cấu trúc nền kinh tế
Câu chuyện về vấn đề lạm phát của Việt Nam vốn đã nóng bỏng từ năm 2007, nhưng sau đó chìm dưới bóng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sang năm 2011, song song với tình hình khủng hoảng nợ công châu Âu, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu lộ rõ những vấn đề bất ổn riêng, với mức lạm phát chạm mức 20%, rất cao so với mặt bằng chung của khu vực và quốc tế; trong khi đó, mức nợ công tuy chưa vượt ngưỡng an toàn (nếu theo quy chuẩn của EU là 60%) nhưng vẫn đang lặng lẽ nhích lên.
Thứ ba, ngày 20 tháng mười hai năm 2011
BỨC TRANH ĐA SẮC CỦA TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM 2011
Labels:
Thông tin đa chiều
Thứ tư, ngày 14 tháng mười hai năm 2011
HIẾN PHÁP 1946: THỂ HIỆN CƠ CHẾ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
Nguyễn Minh TuấnNguồn: Tạp chí Tia sáng,
đăng ngày 14/12/2011,truy cập tại đây
Ngày 12/12/2011, Tạp chí Tia sáng có đăng tải bài viết: "Học từ Hiến pháp 1946: Cần nhìn nhận cả ưu điểm và hạn chế" của tác giả Nguyễn Thị Hường. Trong bài viết này, tác giả cho rằng “hạn chế của Hiến pháp 1946: tập quyền chứ không phải phân quyền” và đưa ra những căn cứ mà theo tôi chưa thực sự thuyết phục.
1. Khi đọc bài viết, tôi không rõ tác giả bài viết hiểu “phân quyền” và “tập quyền” là theo nghĩa nào.
Montesquieu cha đẻ học thuyết phân quyền trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" hoàn toàn không dùng khái niệm "phân chia quyền lực tuyệt đối” (Séperation des pouvois), mà là “phân công quyền lực” (Distribution des pouvois)[1]. Ông cho rằng bản chất khi có quyền lực là dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền, vì vậy cần phải phân công, kiểm soát và giới hạn quyền lực để tránh lạm quyền và bảo vệ dân quyền[2]. Thực tế ngày nay ngay cả ở Mỹ, một nước theo chủ thuyết "phân quyền cứng rắn" cũng không tồn tại một sự "phân quyền tuyệt đối" giữa lập pháp và hành pháp, điều này một phần do quan hệ ràng buộc của hai viện và Chính phủ trong hoạt động lập pháp, một phần do tính chất quan hệ giữa các đảng phái không tĩnh mà luôn động[3]. Đưa ra những căn cứ lịch sử và thực tế như vậy để thấy rằng không có sự phân quyền tuyệt đối, mà chỉ tồn tại sự phân công tương đối, tồn tại song hành với việc kiểm soát và cân bằng quyền lực.
Labels:
Góc nhìn pháp luật và cuộc sống
SUY NGHĨ VỀ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 1/2006,truy cập tại đâyLà hệ thống các quan điểm lí luận khoa học hoàn chỉnh về những vấn đề nhà nước và pháp luật, học thuyết pháp lí biểu hiện ở cấp độ cao của ý thức pháp luật, tức là những ý niệm của con người về hệ thống các thể chế và thiết chế nhà nước.Về mặt cấu trúc, học thuyết pháp lí gồm các khái niệm, phạm trù, quy luật vận động khách quan, những mối liên hệ phổ biến về các hiện tượng nhà nước và pháp luật. Học thuyết pháp lí có thể luận giải về nhà nước và pháp luật đã qua, nhà nước và pháp luật đang tồn tại hay chủ trương, kiến giải về mô hình nhà nước và pháp luật trong tương lai.
YẾU TỐ TÂM LÝ PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Thay đổi trạng thái tâm lý -
Ảnh: www.usao.eduPGS.TS. Nguyễn Minh ĐoanNguồn: Khoa học pháp lý, Số 4/2004,truy cập đường link gốc tại đây
I. Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, là tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ lợi ích cho bản thân mình, cho nhà nước và cho xã hội, xử sự đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ xã hội.
Ý thức pháp luật được tạo nên bởi hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức pháp lý) và tâm lý pháp luật. Nếu hệ tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của các họat động tư duy lý luận, thì tâm lý pháp luật chỉ là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật, tinh thần và hành vi thực hiện pháp luật một cách tự phát nhiều hơn. Tâm lý pháp luật bị chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình độ nhận thức lý luận của cá nhân. Và ngược lại, tâm lý pháp luật là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các tư tưởng, quan điểm pháp luật phù hợp.
BÀN THÊM VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC LÀ THỐNG NHẤT, NHƯNG CÓ SỰ PHÂN CÔNG PHÂN QUYỀN VÀ PHỐI KẾT HỢP GIỮA BA QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP
Montesquieu (1689-1755) GS.TS. Nguyễn Đăng Dung,
Học thuyết phân quyền kể từ khi ra đời cho đến khi được Montesquieu nâng lên thành học thuyết phân quyền trong thời kỳ Khai sáng những năm đầu tiên của Cách mạng tư sản Pháp đã trở thành xương sống của việc tổ chức quyền lực nhà nước khắp nơi trên thế giới. Phân quyền như là một đòi hỏi của dân chủ. Phân quyền như là một nội dung chính của Hiến pháp. Ở đâu không phân quyền thì ở đó không có Hiến pháp. Ở Việt Nam, trong những năm dài của cơ chế tập trung, chúng ta không thừa nhận sự áp dụng học thuyết phân quyền cho nên học thuyết phân quyền đối với chúng ta là rất xa lạ, hầu như không biết hoặc biết rất ít về học thuyết này cũng như áp dụng nó trong tổ chức cơ cấu của nhà nước tư sản.
Cho đến nay, với công cuộc đổi mới, mở cửa, và nhất là với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, những hạt nhân hợp lý trong học thuyết phân quyền đã được chúng ta ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Điều 2 của Hiến pháp quy định rõ:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
HƯƠNG ƯỚC MỚI: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
I. HƯƠNG ƯỚC MỚI: SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN
1. Sự xuất hiện trở lại của hương ước
Hương ước, khoán ước (hay còn gọi nôm na là lệ làng) ở Việt Nam xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV. Đó là những quy ước liên quan đến các mặt của đời sống làng xã được ghi chép thành văn bản (cũng có thể gồm cả những điều lệ không được ghi chép mà truyền khẩu trong dân gian) được cộng đồng làng xã cùng nhau tuân thủ. Hương ước quy định về hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như cách tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ chức trong làng xã; các hội tư văn, tư võ, hội thiện, phe giáp, xóm ngõ; các hoạt động xã hội như hội hè đình đám, tế lễ, tuần phòng, khao vọng, giao hiếu; và một số hoạt động kinh tế. Những quy ước này vừa có những nét chung vừa mang những nét riêng biệt của mỗi làng Việt. Qua thời gian hàng mấy thế kỷ phát triển cho đến trước Cách mạng tháng Tám, hương ước đã trở nên phổ biến ở hầu hết các làng xã Bắc bộ và lan rộng ra các nơi khác. Ngay thời kỳ thuộc địa, hương ước vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Do có chịu ảnh hưởng nhất định của chế độ thực dân nên gọi là hương ước cải lương.
CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN NĂM 1946 – MỘT MỐC SON LỊCH SỬ CỦA THỂ CHẾ DÂN CHỦ VIỆT NAM
Nguồn: Tạp chí khoa học pháp lý, Số 1/2006, truy cập đường link gốc tại đây
Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay là “... tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra Quốc hội. Quốc hội đó là cơ quan có quyền lực tối cao của nhân dân sẽ cử ra một Chính phủ thật sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một hiến pháp dân chủ [1]. Vượt lên muôn vàn khó khăn của thù trong, giặc ngoài với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Nhân kỷ niệm 60 năm cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, việc nghiên cứu để kế thừa và phát triển những quy định của các sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử và thực tiễn tổ chức cuộc Tổng tuyển cử này trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay nói riêng là rất cần thiết và có ý nghĩa.
LUẬT TỤC Ê ĐÊ: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA PHÁP LÝ
Trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn phản ánh khả năng nhận thức và trình độ phát triển của một dân tộc. Ở nước ta hiện nay, bên cạnh hệ thống pháp luật thực định đang ngày càng được hoàn thiện vẫn còn tồn tại luật tục của các buôn làng người thiểu số, mà giá trị hiện thực của nó trong việc đảm bảo sự ổn định các quan hệ xã hội trong một cộng đồng người là điều không thể phủ nhận. Nếu hệ thống pháp luật thực định phản ánh trình độ văn hóa pháp lý của một cộng đồng người sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia thống nhất, thì luật tục lại phản ánh văn hóa pháp lý của một dân tộc – một bộ phận hợp thành khối dân cư thống nhất ấy. Trong bài viết này, chúng tôi nêu một số suy nghĩ về luật tục Ê Đê nhìn từ góc độ văn hóa pháp lý.
Thứ năm, ngày 08 tháng mười hai năm 2011
TIẾP CẬN PHÁP LUẬT TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Bên cạnh việc được nhìn nhận dưới góc độ là những định chế, pháp luật còn có xu hướng được nhìn nhận dưới góc độ văn hóa, mục đích là nhằm vượt lên những bất đồng, khác biệt, để hợp tác xây dựng nên những qui tắc ứng xử mới – những qui tắc có khả năng đem lại lợi ích cho các bên tham gia và cho toàn xã hội.
Lâu nay pháp luật thường được nhìn nhận dưới góc độ là những định chế có tính chất “quan phương” từ phía nhà nước hay nói cách khác pháp luật được hiểu là tổng thể các qui tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tồn tại một xu hướng tiếp cận pháp luật khác – xu hướng nhìn pháp dưới góc độ văn hóa1, mục đích là nhằm vượt lên những bất đồng, khác biệt, để hợp tác xây dựng nên những qui tắc ứng xử mới –những qui tắc có khả năng đem lại lợi ích cho các bên tham gia và cho toàn xã hội.
Thứ hai, ngày 05 tháng mười hai năm 2011
LUẬT BIỂU TÌNH
Sự chậm trễ trong việc ban hành Luật biểu tình là một điều không may. Bởi vì rằng điều này có thể gây ra rất nhiều rắc rối cho chúng ta trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước. Thật khó lý giải việc người dân Thái Lan, người dân Myanmar… có thể thực thi được quyền biểu tình của mình, còn người dân Việt Nam thì lại chưa thể làm được như vậy.
Quyền biểu tình là một quyền hiến định. Quyền này được ghi nhận tại Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 như sau: “Công dân có quyền… biểu tình theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Hiến pháp ghi nhận quyền, nhưng không quy định thủ tục để thực thi quyền. Hiến pháp giao việc này lại cho hoạt động lập pháp. Theo đó, thủ tục thực thi quyền biểu tình phải được bảo đảm bằng một đạo luật.
5 NĂM NỮA CHÚNG TA SẼ SỐNG BẰNG GÌ ĐÂY, CÁC EM?
Phỏng vấn TS. Nguyễn Thành Nam,Nguyễn Hường (ghi)Nguồn: Báo điện tử Vietnamnet, đăng ngày 25/11/2011, truy cập tại đâyĐó là câu mà TS Nguyễn Thành Nam đem ra để hỏi mỗi khi có cơ hội nói chuyện với sinh viên về ảo tưởng nhân công giá rẻ ở Việt Nam. Đất nước đang dần hết mỏ để đào, hết tài nguyên để bán nhưng nhân lực chất lượng cao thì vẫn ùn ùn đổ vào các ngành sản xuất phi vật chất.TS Nguyễn Thành Nam kể lại: "Trong buổi nói chuyện với sinh viên ĐH đầu năm học vừa rồi, tôi chia sinh viên chia thành từng nhóm theo ngành yêu thích. Nhóm thì thích làm kinh doanh, nhóm thích quản trị, quảng cáo, marketing, bán hàng, ngân hàng…tuyệt nhiên không có ngành nào liên quan đến sản xuất vật chất. Nguyên nhân phổ biến nhất là những ngành này dễ kiếm tiền và ra trường có thể kiếm tiền được ngay. Tôi bàng hoàng hỏi lại: Thế thì vài năm nữa chúng ta sống bằng gì đây các em? Đất nước không còn mỏ để đào, không còn tiền để vay nữa?”
Labels:
Giáo dục
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






