Nguyễn Minh TuấnỞ Đức, cơ sở Hiến định của quyền tự do ngôn luận là Điều 5 Khoản 1 Câu 1 Đoạn 1 Luật cơ bản. Điều khoản này thừa nhận: „Bất cứ ai cũng có quyền tự do thể hiện và biểu đạt ý kiến của mình dưới dạng lời nói, chữ viết và hình ảnh (…) Không được phép tồn tại bất cứ một sự kiểm duyệt nào.“[1]
Tòa án Hiến pháp liên bang Đức đã giải thích: „Một ý kiến (Meinung) được hiểu là sự đánh giá có tính định tính (Werturteil), chứa đựng các yếu tố quan điểm, góc nhìn của cá nhân về một vấn đề cụ thể nào đó trong phạm vi tranh luận về mặt tinh thần (im Rahmen einer geistigen Auseinandersetzung). Đã là quan điểm cá nhân thì không phụ thuộc vào việc quan điểm đó là đúng hay sai, quan điểm đó có giá trị hay không có giá trị, cũng như không phụ thuộc vào mức độ xúc cảm ra sao“.[2]
Thứ sáu, ngày 20 tháng năm năm 2011
TỰ DO NGÔN LUẬN Ở CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC
Labels:
Góc nhìn pháp luật và cuộc sống
VÌ SAO CẦN PHẢI CÓ TỰ DO NGÔN LUẬN?
(Bạn đã nhìn thấy gì trong bức ảnh này? Nguồn ảnh: tại đây) Bạn hãy dành khoảng 1 phút và nhìn vào bức hình trên.
Bạn đã thấy gì trong đó?
Có người sẽ nói rằng đó là một phụ nữ trẻ tuổi, có người phản đối nói rằng không, đó là một bà cụ.
Qua tranh luận, người ta mới phát hiện ra rằng thực chất đây là hình vẽ có tính mô phỏng, nhìn kĩ bạn sẽ thấy "cằm của người phụ nữ trẻ tuổi trong một góc nhìn khác đồng thời là mũi của một bà cụ".
Nữ văn sĩ người Pháp Anais Nin đã nói rằng: “chúng ta không nhìn mọi vật như chúng vốn có, chúng ta thường nhìn mọi vật theo cách chúng ta là ai” ("We don't see things as they are, we see things as we are").
Cùng là một con bò. Một cậu bé sinh ra ở quê, quen với đồng ruộng nghĩ ngay đến "sức kéo". Một cậu bé sinh ra ở thành phố hay được bố cho đi ăn nhà hàng sẽ nghĩ ngay rằng: "À, con bò này mà làm món bò bít tết thì ngon tuyệt". Một cậu bé sinh ra trong gia đình làm kinh doanh sẽ nghĩ rằng: "Con bò này ít cũng phải hai chục triệu".
Thứ tư, ngày 18 tháng năm năm 2011
BÀI VIẾT "DỖI LÊN, DỖI XUỐNG, DỖI NGANG"
Nguyễn Minh Tuấn
Bài viết dưới đây tác giả đề cập đến một vấn đề, đúng hơn là một căn bệnh xã hội - căn bệnh "dỗi". Qua cách viết hóm hỉnh, gần gũi như đang trò chuyện với bạn đọc, cùng cách diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, tác giả đã chỉ ra được những biểu hiện, tác hại và cả những khuyến nghị nhằm đẩy lùi lối làm việc bất hợp tác một cách phi lý, động thái "cắt cầu", cũng như thói làm việc ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân trong xã hội hiện nay.Chỉ có một điều nhỏ tôi vẫn băn khoăn khi cuối bài viết tác giả đề xuất: "Và một khi những tranh chấp xảy đến, hãy ngồi vào bàn và thương nghị. Nếu hệ thống luật pháp tỏ ra bất lực, phải thiết kế, thay đổi, kiện toàn chúng." Ở luận điểm này, phải chăng tác giả đã quá cường điệu hóa vai trò của pháp luật?Đây là một đề xuất đúng và cần, nhưng tôi nghĩ vẫn chưa đủ, nhất là câu thứ hai khi tác giả cho rằng "nếu luật pháp bất lực thì phải thiết kế, thay đổi, kiện toàn chúng". Cách viết đó khiến độc giả hiểu rằng luật pháp dường như là công cụ duy nhất để điều chỉnh hành vi con người và điều chỉnh các quan hệ xã hội, kể cả khi luật pháp đã bất lực vẫn mong thiết kế, kiện toàn chúng.
Labels:
Công trình của đồng nghiệp
Thứ ba, ngày 10 tháng năm năm 2011
NGƯỜI HỌC ĐÃ THỰC SỰ Ở VỊ TRÍ TRUNG TÂM KHI ĐÀO TẠO TÍN CHỈ?
Nguyễn Minh Tuấn
Đào tạo theo tín chỉ đã được áp dụng từ rất lâu ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Vài năm trở lại đây, nhiều trường Đại học ở Việt Nam đã bước đầu áp dụng mô hình này.
Hướng đi thì đúng, nhưng liệu cách làm đã đúng?
Qua quan sát và cảm nhận, tôi thấy nếu như đào tạo tín chỉ ở nước ngoài (cụ thể ở Đức trong bài viết tôi đã trình bày tại đây) thực chất là kết quả của một sự hối thúc liên tục "từ dưới lên" tức là từ phía người học buộc nhà trường, buộc người thầy phải thay đổi, đáp ứng nhu cầu của họ, thì dường như ở Việt Nam lại đang làm ngược lại là áp đặt "từ trên xuống".
Labels:
Giáo dục
Thứ hai, ngày 09 tháng năm năm 2011
PHỤ NỮ HÀ NỘI: TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long. Từ đó Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế- chính trị và văn hóa của cả nước. Lịch sử phát triển của Thăng Long - Hà Nội cho thấy những nét đặc trưng của kinh đô - đô thị Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung.Đến đầu thế kỷ XX, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa của Pháp, Hà Nội từ một thành thị phong kiến trung đại ngày càng mang dáng dấp một đô thị hiện đại, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, là “thủ đô của Bắc Kỳ” và đặc biệt, với việc đặt Phủ Toàn quyền ở Hà Nội, Hà Nội đã thực sự trở thành “Thủ đô của Liên bang Đông Dương”.Vì vậy, người Hà Nội, phụ nữ Hà Nội không chỉ mang đầy đủ những đặc tính cơ bản của người Việt Nam nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng mà còn thể hiện rõ những dấu ấn lịch sử, văn hóa do vị thế trung tâm văn hóa, chính trị của Thăng Long - Hà Nội mang lại, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp mọi biến động của thời cuộc. Bài viết này của chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu quá trình đi từ truyền thống đến cách tân của phụ nữ Hà Nội trong những năm nửa đầu thế kỷ XX.
Labels:
Công trình của đồng nghiệp
Thứ bảy, ngày 07 tháng năm năm 2011
HIẾN PHÁP DÂN CHỦ: NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN
Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3.9.1945, Hồ Chí Minh đã đưa ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính phủ, trong đó nhiệm vụ thứ ba là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ.”
Và theo những cam kết chính trị đã được đưa ra chính thức, Việt Nam sẽ sửa đổi Hiến pháp trong một tương lai không xa. Vì vậy việc tìm hiểu những yêu cầu của một hiến pháp dân chủ là điều cần thiết cho công cuộc điều chỉnh những thể chế cơ bản của chính quyền hợp hiến ở Việt Nam.
Labels:
Công trình của đồng nghiệp
"CHỈ SỢ LÒNG DÂN KHÔNG THEO"
TS. Giáp Văn DươngNguồn: Tuần Việt NamĐăng ngày 06/05/2011
Chuyện xưa
Chuyện xưa kể rằng, sau khi thâu tóm quyền lực vào tay mình, năm 1400, Lê Quý Ly truất ngôi của cháu ngoại là Trần Thiếu Đế, tự lập ngôi vua, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, đổi niên hiệu là Thánh Nguyên. Ông đổi sang họ Hồ vì cho rằng mình là hậu duệ của Hồ Công Mãn, dòng dõi vua Thuấn, và lập ra nhà Hồ.Sau đó, Hồ Quý Ly đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng như ban hành các đồ đo lường để làm chuẩn trong việc buôn bán (1403), sửa lại quy định thi cử: những người đỗ thi Hương phải qua kỳ thi toán pháp mới được thi Hội (1404). Trước đó, ông cũng đã cho phát hành tiền giấy lần đầu tiên trong lịch sử (1396).Những cải cách của Hồ Quý Ly đều nhằm mục đích xây dựng một nước Đại Ngu cường thịnh. Tuy nhiên, những cải cách này được tiến hành trong một thời gian quá ngắn, làm dân chúng hoang mang, nên không đạt hiệu quả như ông mong đợi, và trên thực tế, đã trở nên phản tác dụng.Năm 1405, trước nguy cơ xâm lược của giặc Minh, Hồ Quý Ly cho họp quần thần để bàn kế chống giặc. Khi được hỏi, con trai ông là Hồ Nguyên Trừng đã nói: Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo.Sử gia Ngô Sĩ Liên đời sau, trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, đã khen rằng: Mệnh trời là ở lòng dân. Câu nói của Trừng hiểu được điều cốt yếu đó.
Labels:
Góc nhìn pháp luật và cuộc sống
Thứ ba, ngày 03 tháng năm năm 2011
BÀI PHỎNG VẤN GS. ALAN D.J.MACFARLANE VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ANH
Alan Donald James Macfarlane là giáo sư của Đại học Cambridge, tiến sĩ chuyên ngành sử học hiện đại - modern history (năm 1967), tiến sĩ chuyên ngành nhân loại học - anthropology (năm 1972). GS. Macfarlane không phải là một nhà luật học, nhưng ông lại có nhiều bài viết, bài phỏng vấn, công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử luật pháp rất có giá trị. Dưới đây là một bài phỏng vấn GS. Macfarlane, tuy ngắn nhưng đã giới thiệu được những nét cơ bản nhất về lịch sử và những đặc trưng điển hình của hệ thống pháp luật Anh (Tiếng Anh).
Nguồn tham khảo (Source):http://www.alanmacfarlane.com/FILES/alanlongcv.html
http://www.alanmacfarlane.com/
http://www.alanmacfarlane.com/law/audiovisual.html
Xin trân trọng giới thiệu!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




